CHƯƠNG NĂM: NÀNG DOÃN


Hội chùa Phật tích năm ấy, Lê Văn Thịnh gặp một người con gái. Nàng Doãn người giáp Điền Mô, hương Thuận Thành, cách Đông Cứu một quãng đường ngắn. Doãn hai mươi, kém Thịnh ba tuổi. Bạn học với Thịnh tuổi ấy dường như đều đã yên bề gia thất. Lê Văn Thịnh thì vẫn lửng lơ. Tiếng thơm về tài học, lòng hiếu thảo của Thịnh khiến nam thanh nữ tú trong vùng rất ngưỡng mộ. Bao cô gái thầm mơ nương bóng thầy đồ. Nhưng Lê Văn Thịnh mải dùi mài kinh sử, không để tâm đến. Và thẳm sâu trong lòng, Thịnh luôn mặc cảm về phận mồ côi. Bậc sinh thành nào chả muốn gả con vào nơi môn đăng hộ đối. Một anh đồ nghèo không còn cha mẹ khác gì đôi đũa mốc trong mắt mọi người. Rồi nếu Thịnh lấy vợ, em Hoàng Mai sẽ sống sao? Bao nhiêu lý do khiến Lê Văn Thịnh lấn cấn cho hạnh phúc riêng của mình. Vậy mà lần tân giao ấy, hình bóng nàng Doãn cứ níu chặt trong lòng.

Lê Văn Thịnh cùng Hà Ngô Tự và Nguyễn Lượng đi đến gần sông thì gặp tốp thôn nữ đang hát đối đáp. Sáu cô gái tuổi trăng tròn chia hai phe. Các nàng lánh ra đây để luyện giọng, khớp lời trước khi tiếp đón các liền anh liền chị bên giáp Quan họ. Trông ai cũng xinh tươi mơn mởn. Không muốn kinh động họ, Thịnh kéo hai bạn nấp sau một lùm cây. Giọng hò vút lên:

“Ai cùng gặt lúa đỏ đuôi

Đem về mà đập mà phơi kịp ngày

Ai về giã gạo ba chày

Giã đi cho trắng gửi ngay cho chàng

Sẵn tiền mua bạc, mua vàng

Sẵn tiền sắm áo cho chàng trẩy kinh…”.

Ô, hình như các cô nàng cũng nói đến kỳ thi sắp tới. Ba chàng khóa sinh như được tiếp thêm động lực. Giọng đối trong trẻo, mượt mà tiếp nối:

Ai đi đợi với tôi cùng

Tôi còn sắm sửa cho chồng đi thi

Chồng tôi quyết đỗ khoa này

Chữ tốt như rắn, văn hay như rồng

Bõ khi xắn váy quai cồng

Cơm niêu nước lọ nuôi chồng bấy lâu.

Hay quá. Nguyễn Lượng thốt lên. Hai người bạn Thịnh đều đã có vợ, câu hò thật hợp cảnh. Lê Văn Thịnh đơn chiếc. Mỗi người nghĩ một đàng. Bỗng ánh mắt sáng, sắc lẹm nhận ra mấy chàng trai nấp sau bụi cây nghe trộm. Đôi má ửng hồng, nàng chúi vào sau lưng bạn. Một cô xem chừng đàn chị cất giọng véo von, đáo để:

Ai mà thậm thụt sau cây

Bên kia mắc núi, bên này mắc sông

Phải ông xanh buộc tơ hồng

Ra cho thấy mặt, uổng công rình mò.

Nguyễn Lượng bạo miệng và rất lợi khẩu. Anh ta không ngán cái vụ thách đố này. Bước ra, sửa lại khăn mũ, vái chào. Rồi cất tiếng:

Anh đây phận học trò nghèo

Bên giáp Đông Cứu vui theo hội chùa

Say lời oanh yến gió đưa

Tạ lỗi người đẹp xin thưa thật lòng.

Hà Ngô Tự bước ra theo. Các nàng cúi chào e lệ. Tiếng xì xào: “Thì ra các chàng khóa sinh Đông Cứu”. Cô xinh nhất hội ngập ngừng:

– Thật vinh hạnh cho chúng em. Xin hỏi trong hai anh ai là thầy Lê Văn Thịnh ạ?

Thịnh giật mình. Hà Ngô Tự và Nguyễn Lượng cũng ngỡ ngàng. Họ chỉ vào lùm cây:

– Anh em học trò nghèo chúng tôi mới thật là người vinh hạnh. Các đóa hoa xinh đẹp nhường này biết tới tiếng tăm con thầy học của chúng tôi, khiến chúng tôi cũng được thơm lây. Thầy Lê Văn Thịnh ở sau lùm cây kia ạ.

Thịnh đành phải ló mặt ra. Bất chợt ông đồ trẻ và người con gái vừa hỏi, chập ánh mắt vào nhau. Khoảnh khắc ấy khiến Thịnh như run lên. Một đôi mắt bồ câu thật hiền. Rất sáng. Hình như nàng cũng đang bối rối. Lửa chàm đôi má làm nó chuyển sang mầu hồng phấn. Từ phút ấy, các bạn cứ gán Thịnh với nàng. Từng cặp, từng cặp sánh vai nhau rảo bước. Nàng giới thiệu tên mình là Doãn. Doãn Hoàn Doãn. Rồi nhìn Thịnh bảo:

– Anh Thịnh nghe tên em chắc buồn cười lắm. Trúc trắc, kỳ quặc.

Quả thật. Một cái tên hiếm gặp. Doãn Hoàn Doãn. Doãn giải thích trong tiếng cười khúc khích:

– Anh Thịnh biết không. Họ Doãn nhà em ở Điền ít người lắm. Một họ nhỏ. Người họ Doãn bao đời chỉ phát mạnh về đường âm.

Lê Văn Thịnh hỏi ngang:

– Ý là họ Doãn nhà em sinh nhiều con gái?

– Vâng. Lạ lắm anh ạ. Hiếm nhà sinh được con trai. Mà cha em lại là trưởng họ. Nên lúc nào ông cũng nghĩ trách nhiệm ấy đặt lên vai mình.

Sau lần gặp ấy Lê Văn Thịnh nghĩ nhiều đến Doãn. Cuộc trò chuyện để lại trong Thịnh tình cảm mến mộ cô thôn nữ Điền Mô. Nhớ nhung lớn dần. Doãn Hoàn Doãn là cô gái hóm hỉnh. Tính nết vui vẻ, dịu hiền và rất có duyên nói chuyện. Doãn tỏ ra khá hiểu biết về văn hóa xa xưa của phủ Thiên Đức. Nàng kể về lịch sử chùa Phật Tích. Về thành Luy lâu. Lễ hội Tứ Pháp và tích nàng Man Nương… Lê Văn Thịnh đã nghe nhiều. Nhưng kể có lớp lang, có dẫn chứng và cuốn hút đến thế chỉ có Doãn. Hay vẻ đẹp trong trẻo, tươi nhuần giản dị, hồn hậu toát ra từ nàng khiến ông đồ trẻ thấy mọi thứ ở nàng đều đáng yêu, cuốn hút hơn lên.

Lần gặp sau, Lê Văn Thịnh hỏi về gốc gác cái họ tên khá dị biệt của nàng. Doãn Hoàn Doãn khúc khích cười. Mầu hồng dâng lên càng khiến nàng đẹp bội phần. Cách nói chuyện của Doãn rất tự nhiên, gần gũi:

– Anh Thịnh biết không – Doãn thường mở đầu câu chuyện như thế – Họ Doãn của em ở giáp Điền Mô chỉ có mươi nhà. Số đầu đinh ít lắm. Nhà nào may mắn đẻ được cậu ấm thì nở mày nở mặt với xóm giềng. Cả họ vui chung. Không hiểu sao người họ Doãn rất khó sinh con trai thế anh nhỉ. Toàn vịt giời.

Nói xong Doãn Hoàn Doãn cười nắc nẻ. Như cái dớp sinh toàn con gái của họ Doãn chẳng khiến nàng buồn.

Lê Văn Thịnh tò mò:

– Vậy họ nào đông đàn ông nhất?

– Họ Đinh anh ạ. Họ Đinh lại đẻ nhiều con trai, rất ít con gái.

– Vậy thì họ Đinh chiếm hết các chức sắc trong thôn, trong giáp nhỉ?

– Vâng. Về tay họ Đinh cả. Công to việc lớn tiếng nói họ Đinh được vì nể lắm. Các họ nhỏ cay cú, tủi thân nhưng biết làm sao được. Mà mặc kệ họ anh nhỉ.

Lê Văn Thịnh rất thích những câu “anh nhỉ” “anh thấy không” mà Doãn thường chen vào trong câu chuyện. Phải là người tâm hồn thánh thiện, nhân ái, vị tha mới có cách nói chuyện hóm hỉnh và tiếng cười trong veo như thế. Thịnh hỏi để biết nhiều hơn về gia cảnh Doãn:

– Mẹ em họ gì?

– Mẹ em người họ Đinh.

– Vậy mà cũng khó sinh con trai?

– Thế mới lạ. Cha em là trưởng họ Doãn, chắc nghĩ nhiều tới cái tình cảnh họ mình nên ông kết hôn với con gái vị chủ đô (11) họ Đinh. Ông hy vọng cái giống đa đinh của họ Đinh sẽ giúp họ Doãn cải thiện tình hình. Vậy mà rồi mẹ em đẻ tồ tồ liền bốn cô con gái. Em thứ tư. Anh Thịnh thấy có lạ không?

Lại cười nắc nẻ. Tiếng cười trong veo. Thịnh bị lây cái tiếng cười ấy từ lần đầu gặp Doãn. Nàng kể tiếp:

– Mẹ em bảo, hôm em ra đời cha thất vọng lắm. Mới nghe bà đỡ trong buồng thốt lên “con gái”, cụ liền hất tung bộ ấm chén trên tràng kỷ xuống đất. Cái ấm trà vỡ toang. Cả tháng trời sau đó cha em chìm trong rượu. Ủ rũ, cay đắng. Bao nhiêu người trong họ đến động viên. Bà cô ruột phải ở nhà em suốt thời gian ấy cho mẹ con em đỡ sợ.

Thịnh động viên:

– Chắc cụ nghĩ đến trách nhiệm trưởng họ. Chứ nhà nào cũng sinh bảy, tám con đâu đã mất hết hy vọng.

– Em chả biết. Nhưng anh Thịnh biết không, cha em lại rất thương con. Bực bõ thế thôi song cụ vẫn chiều quý bốn con vịt giời lắm.

Lê Văn Thịnh vui theo Doãn:

– Em kể tiếp chuyện đặt tên đi.

– Xấu à anh?

– Không xấu. Anh rất thích.

– Ngày còn nhỏ em luôn nghĩ cái tên mình xấu. Trái khoáy. Đọc méo cả miệng. Nhưng lớn lên lại thấy hay hay. Khắp cả phủ Thiên Đức này có lẽ chả ai trùng với mình.

– Thì anh bảo tên em đẹp, độc đáo mà.

Doãn nhướng mắt nhìn Thịnh:

– Anh nói thật chứ, hay lại khen em. Chuyện là thế này. Cũng nghe mẹ kể lại thôi. Cậu ruột em lúc ấy đang giữ chân chủ đô thay ông ngoại. Thấy anh rể mãi chả đặt tên cho con, cậu đến hỏi để điền vào sổ tịch. Đúng hôm cha em đang say mèm. Hỏi thế nào cũng lặng thinh. Thư thoảng lại nhìn em vợ, mặt đờ đẫn. Mà cậu em thì mắn đẻ quá. Mới tí tuổi đã ba thằng con trai nối nhau ra đời. Cha vật vờ đau khổ thế. Lừ đừ nhìn cậu em hồi lâu rồi bỗng phẩy tay lớn tiếng như than vãn với trời hay với cậu em chả biết. Giọng đầy bi phẫn. Doãn… lại… hoàn doãn… Trời ạ… Doãn hoàn doãn. Cậu ơi… Doãn … hoàn …doãn… Chẳng biết cậu em nghe câu được câu mất thế nào, nghĩ cha em bảo đặt tên em như thế. Vậy là ghi ngay vào sổ: Doãn Hoàn Doãn. Em có cái tên thế đấy. Buồn cười không anh. Có ai tên lại như thế không anh?

Lê Văn Thịnh cười khùng khục. Mặt Doãn đuỗn ra. Lát sau Thịnh bảo:

– Một cái tên rất hiếm, khó mà trùng với ai. Thế là quý lắm.

Doãn nhìn Thịnh săm soi:

– Tên thế xấu mù. Quý gì.

Tiếng cười cất lên khiến Thịnh xốn xang. Thầy đồ trẻ Lê Văn Thịnh và Doãn Hoàn Doãn đã tìm thấy nhau một cách tự nhiên như thế.

Hiếm con trai nhưng họ Doãn Điền Mô lại được trời bù cho cái sự thiệt thòi ấy. Con gái họ Doãn dường như ai cũng xinh đẹp. Dáng cao, thanh thoát. Dương suy thì âm thịnh. Đàn bà họ Doãn rất thông minh, hóm hỉnh, nghị lực. Mỗi lần bên Doãn, Lê Văn Thịnh phát hiện ở nàng nhiều điểm trội của một nữ nhi bình thường. Thịnh rất thích nghe Doãn nói chuyện. Chàng thường im lặng cảm nhận vẻ đẹp nền nã ẩn tàng trong nàng. Nhiều lần như thế, Doãn Hoàn Doãn thấy lạ, nàng ngước lên. Bốn con mắt chợp vào nhau. Tình yêu không trao bằng lời. Ánh nhìn xao xuyến đã nói thay họ.

Lê Văn Thịnh không dám thổ lộ tình cảm mình với Doãn. Nhưng trong sâu thẳm, Thịnh biết mình đã bị cầm tù trong đôi mắt kia rồi. Năm năm châng lâng vì mất cha mẹ, sự quen biết Doãn Hoàn Doãn giúp Lê Văn Thịnh cân bằng trở lại. Đó cũng là năm Lê Văn Thịnh có nhiều niềm vui. Em Lê Hoàng Mai lấy chồng. Người em rể làm hàng gỗ bên hương Tiên Du. Lê Hoàng Mai “cắp nón sang đò” yên bề gia thất khiến Lê Văn Thịnh nhẹ lòng. Trách nhiệm anh cả “quyền huynh thế phụ” đã hoàn thành. Giờ đây thanh thản ôn luyện chuẩn bị cho kỳ thi quan trọng nhất đời mình.

Lê Văn Thịnh đóng cửa lớp dành thời gian đọc văn sách. Những chuyến về Bảo Tháp dày hơn. Nho sinh của thầy đồ Lê Thành lại có dịp tụ tập dưới mái nhà xưa. Họ từ Đông Cứu, Song Giang, Xuân Lai, Chi Nhị… Một phần để cùng nhau ôn luyện. Phần nữa họ biết Lê Văn Thịnh sau mấy năm dạy học, đọc sách đã đạt đến độ uyên thâm. Họ muốn học thêm từ Thịnh. Lê Văn Thịnh không giấu các bạn. Trao đổi với các bạn cũng giúp mình ôn luyện kỹ càng hơn. Những cuộc đàm đạo, dự đoán về kỳ thi giúp họ có hướng ôn luyện tập trung hơn. Đúng là “Học thầy không tày học bạn”, Lê Văn Thịnh vỡ ra nhiều. Lần nào chia tay, biết Thịnh phải lòng nàng Doãn người Điền Mô, họ lại hối thúc Lê Văn Thịnh cưới vợ. Nhưng các bạn đâu hiểu nỗi suy tư, ngại ngần trong Thịnh. Vả lại lúc này mọi thứ chàng gạt hết ra khỏi đầu. Lê Văn Thịnh chỉ chờ đợi. Chờ đợi cuộc thi tài.

Lê Văn Thịnh trở lại Chi Nhị. Em Hoàng Mai vài bữa lại đến thăm anh trai ôn luyện ra sao. Chuẩn bị sẵn cho anh đồ ăn thức uống. Một lần Hoàng Mai đang ở Chi Nhị thì Doãn Hoàn Doãn tới. Nàng đi cùng người bạn gái. Bạn đứng chờ. Doãn vào vấn an Thịnh. Nàng đem cho Thịnh mấy thứ sản vật quê. Có cả chai vừng và lọ cà muối. Linh cảm phụ nữ nhậy bén, Hoàng Mai biết Doãn yêu anh trai mình. Lần gặp đầu, Mai đã có cảm tình ngay với chị Doãn. Lê Văn Thịnh rất vui. Nàng Doãn về rồi, Hoàng Mai nói với anh trai:

– Em mừng anh có bạn gái thật xinh, lại chu đáo nữa. Chị ấy thương anh lắm đấy.

Lê Văn Thịnh:

– Anh gặp Doãn ở hội chùa Phật Tích năm kia. Trong lòng cũng mến lắm, nhưng chưa dám ngỏ lời.

– Được đấy anh ạ. Cùng giới nữ với nhau em biết. Chị Doãn thương anh. Thương yêu thật lòng. Muốn chăm chút cho anh. Nhìn quà của chị ấy khác nào lo cho chồng ăn học đi thi.

Lê Văn Thịnh tâm sự:

– Anh mến Doãn. Em biết rồi đấy, trong lòng anh có người con gái nào đâu. Nhưng chưa thể nói vào lúc này. Từ nay cho đến lúc đi thi anh phải dồn hết tâm sức vào ôn luyện.

Giọng Mai bùi ngùi:

– Biết vậy nhưng em ở xa. Anh học hành đèn sách vất vả mà không đỡ đần được. Nếu có chị Doãn ở gần, anh chị thương nhau em cũng đỡ lo nhiều bề.

Lê Văn Thịnh ngồi lặng rồi nhỏ nhẹ:

– Hoàn cảnh nhà mình không được như người ta. Anh em mình mồ côi sớm quá. Hôn nhân là việc trọng. Nếu cha mẹ cô Doãn muốn tìm nơi môn đăng hộ đối thì cũng không thuận lòng gả Doãn cho anh đâu.

Nghe anh trai nói thế, Lê Hoàng Mai nước mắt rơm rớm. Lời anh là chân thành và hợp thói thường của người đời. Hoàng Mai động viên:

– Em mong anh kỳ này giật giải cao thì chuyện đó sẽ khác.

Lê Văn Thịnh không nói gì. Hoàng Mai về, Thịnh lại vẩn vơ nhớ Doãn. Điều Thịnh nói về môn đăng hộ đối là có thật. Thịnh không muốn làm Doãn thất vọng.

Sau lần gặp Doãn Hoàn Doãn ở Chi Nhị, Lê Hoàng Mai tìm đến Điền Mô. Cuộc gặp bất ngờ. Hoàng Mai chủ động:

– Cho phép em được gọi là chị. Mong chị Doãn thông cảm về cuộc đến thăm đường đột này.

Doãn Hoàn Doãn ngỡ ngàng nhưng nhận ra ngay sự chân thành và nặng lòng lo lắng cho anh trai của Lê Hoàng Mai. Doãn bảo:

– Chúng mình cùng chà lứa. Cứ coi nhau là bạn cho dễ nói chuyện.

Lê Hoàng Mai thưa:

– Chị Doãn hơn em một tuổi. Vậy là vai chị rồi. Chị cho phép em tâm sự thật lòng như một người em gái. Anh Thịnh thật tốt số gặp được chị. Nhưng lúc này anh ấy còn lấn cấn nhiều điều. Em biết anh Thịnh và chị thương nhau, nhưng hoàn cảnh nhà em khiến anh Thịnh ngại ngùng. Anh Thịnh… anh ấy…

Hoàng Mai ngần ngừ, Doãn Hoàn Doãn cầm bàn tay Mai, cử chỉ khéo léo giúp xóa đi sự e ngại. Doãn bảo:

– Mai nói vậy, chị đã hiểu. Có điều gì chị em mình đừng giấu nhau.

– Chị Doãn thật tốt. Em biết trong lòng anh Thịnh chỉ có mình chị thôi. Em lấy chồng xa không quan tâm tới anh Thịnh thường xuyên được. Mà lúc này anh ấy rất cần tới bàn tay một người phụ nữ. Em xin chị hãy giúp em. Anh Thịnh đang chuẩn bị cho kỳ thi.

Doãn Hoàn Doãn ngồi lặng. Nỗi lo của Hoàng Mai cho Thịnh cũng chẳng khác gì điều mà Doãn đang mang trong lòng.

… Tiếng tăm về sức học thần đồng của Lê Văn Thịnh. Lòng hiếu thảo của chàng Nho sinh ba năm trời cư tang cha mẹ không chút trễ nải. Câu sấm ứng vào Thịnh, trong vùng không ai lạ gì đã khiến Doãn Hoàn Doãn yêu trộm nhớ thầm chàng trai giỏi giang này từ lâu. Gặp Thịnh lần đầu ở hội chùa Phật Tích, Lê Văn Thịnh hiện ra không khác với tưởng tượng của Doãn. Đúng là một bậc hiền nhân quân tử. Vóc dáng sang cả, hào hoa, đĩnh đạc. Lời Hoàng Mai kéo Doãn trở về cuộc nói chuyện:

– Lần gặp chị vừa rồi ở Chi Nhị, em biết trái tim hai anh chị đều đã chung nhịp đập. Anh Thịnh em vẫn chìm trong nỗi đau mất cha mẹ quá sớm. Lại ngại ngùng về chuyện môn đăng hộ đối trong quan niệm của các cụ. Nhưng anh ấy chỉ có chị. Một mình chị thôi. Chỉ khắc lưu hình bóng của chị thôi.

Doãn Hoàn Doãn là người khéo nói cũng ngạc nhiên và bị thuyết phục về cách nói chuyện của Lê Hoàng Mai. Không vòng vo và thật chân thành. Giờ đây Doãn hiểu vì sao bao lần gặp nhau mà Thịnh không ngỏ lời. Trái tim Doãn thổn thức, hồi hộp chờ đợi bao ngày. Thịnh nhớ mình. Thịnh thương mình. Trong lòng Thịnh chỉ có mình.

Doãn Hoàn Doãn nhận lời thay Lê Hoàng Mai chăm lo cho Thịnh. Giúp Thịnh mọi thứ trước khi đi thi. Mỗi lần tới Chi Nhị, Doãn hỏi Thịnh thứ gì cần đem theo cho chuyến đi ứng thí. Sự quan tâm của nàng Doãn chân tình, ấm áp. Lê Văn Thịnh cảm nhận niềm hạnh phúc từ người bạn gái mà ôn luyện say mê, hứng khởi hơn. Tiếp cho Thịnh thêm sức mạnh và quyết tâm. Lần nào em Hoàng Mai đến thăm anh mà gặp chị Doãn ở đó, căn nhà nhỏ lại tràn ngập tiếng cười.

Những ngày bận rộn nhưng thật vui. Doãn Hoàn Doãn đã là nửa phần đời của thầy đồ trẻ Lê Văn Thịnh. Cho dù họ chưa thốt ra miệng lời yêu thương. Tất cả chờ đợi ở chuyến “Vượt vũ môn” của Lê Văn Thịnh.

Cuối năm Giáp Dần (1074), luồng gió mát lành tràn về khắp thôn ổ. Chỉ dụ của vua Lý Nhân Tông theo ngựa trạm dán ở cửa đình, chùa. Sau tết Ất Mão (1075), tại kinh thành Thăng Long, triều đình mở kỳ thi “Minh kinh bác sĩ và Nho học tam trường”(12) lần đầu tiên của nền học vấn Đại Việt. Sĩ tử cả nước vô cùng hoan hỉ. Nho sinh chúi đầu vào dùi mài, ôn luyện. Ai cũng ôm mộng giật bảng vàng.

Để giúp bạn hiểu rõ hơn về nội dung, sau đây là phần chú thích của chương 5. Mời bạn nghe cùng BÚC CÁC:

(11). Chủ đô: Người đứng đầu một giáp thời nhà Lý, như Chủ tịch xã ngày nay.

(12). “Minh kinh bác sĩ và Nho học tam trường”, kỳ thi kén chọn người tài lần đầu tiên của quốc gia Đại Việt, diễn ra vào mùa xuân năm Ất Mão (1075) dưới triều Lý Nhân Tông, niên hiệu Thái Ninh thứ 4. Dân gian quen gọi là kỳ thi: “Minh kinh bác học và Nho học tam trường”.