CHƯƠNG 7: VIỆC CHƯA CÓ TIỀN LỆ


Việc trọng đầu tiên của Lý Đạo Thành sau khi trở lại triều là đứng ra tổ chức kỳ thi tuyển chọn nhân tài của Đại Việt. Kỳ thi Minh kinh bác học và Nho học tam trường. Một sự kiện lớn và mới mẻ chưa từng có trong nền học vấn và khoa cử nước nhà. Vua Lý Nhân Tông xuống chiếu phục chức Thái sư cho Lý Đạo Thành, cử ông làm Chánh chủ khảo kỳ thi này.

Dẫu là người thông kinh bác sử nhưng việc tiến hành kỳ thi lớn nhất nước lần đầu tiên đặt ra bao nhiêu thử thách. Chưa có mẫu nào để theo. Từ việc chọn điểm thi, dựng trường thi, ra đề, coi thi, chấm trạch ra sao. Lấy đỗ bao nhiêu? Hình thức vinh quy bái tổ, rồi bổ trật người trúng tuyển… Tất cả đều như tờ giấy trắng phải tự mình vẽ ra.

Thái sư Lý Đạo Thành tâu trình vua Lý Nhân Tông và Hoàng Thái phi nhiếp chính Ỷ Lan:

– Muốn tâu đức vua cùng Hoàng Thái phi nhiếp chính, thần cho rằng cần làm gọn. Lấy đỗ ít, tinh chứ không tham nhiều. Đề thi cũng không cần quá nhiều câu hỏi song phải đủ độ khó. Lại phải phù hợp với tư tưởng cai trị của vương triều và chí khí Đại Việt mới tìm được người thực tài và hữu ích cho xã tắc.

Hoàng Thái phi Ỷ Lan xem bản tấu tỏ ra đồng tình:

– Những điều Quốc lão Thái sư dự làm, ta đều thuận cả. Ta chỉ góp một ý nhỏ. Việc coi thi và chấm trạch phải thật nghiêm minh, công bằng. Lộ, phủ nào có sĩ tử tham gia ứng thí, các quan quê vùng đó không tham gia coi thi và chấm trạch.

Lý Đạo Thành thưa:

– Ý chỉ của Hoàng Thái phi thật thông tuệ. Đúng là nên như thế. Kỳ thi đầu tiên phải trở thành hình mẫu cho các kỳ thi sau. Vì thế phải rất chu đáo, cẩn trọng, không để sai sót.

Lý Nhân Tông năm ấy lên chín tuổi. Đức vua chưa có chính kiến gì vào các việc trọng của xã tắc, nhưng đã tỏ ra chú ý lắng nghe và có những câu hỏi khá bất ngờ:

– Quốc lão Thái sư dự định thi mấy vòng?

Lý Đạo Thành rất vui:

– Tâu đức vua, thần đã có chủ ý thi hai vòng. Vòng đầu cho tất cả các thí sinh đủ điều kiện tham gia ứng thí theo quy định của triều đình. Vòng này gọi là thi “Nho học tam trường”. Sẽ lấy trúng 20 người có số điểm cao nhất vào dự vòng hai thi “Minh kinh bác học”. Ai đỗ đầu vòng hai được vinh danh thủ khoa. Ngoài thủ khoa sẽ lấy thêm ba hoặc bốn người có số điểm cao nhất.

Hoàng Thái phi Ỷ Lan hỏi thêm:

– Vậy cung cách thi của Đại Việt có khác gì so với chế độ thi cử của nhà Tống?

– Trình bẩm Hoàng Thái phi, thần nghĩ nhà Tống đã tổ chức thi chọn người tài cả trăm năm nay. Mỗi kỳ thi lấy đỗ cả trăm người. Ta cần học theo họ ở cách tổ chức thi. Cái khác của Đại Việt so với nhà Tống là nội dung ra đề, chấm quyển. Chọn người thực tài, lấy đỗ ít chứ không tràn lan như nhà Tống.

Vua Lý Nhân Tông và Hoàng Thái phi nhiếp chính Ỷ Lan không bàn góp gì thêm. Lý Đạo Thành bẩm tấu:

– Tâu đức vua cùng Hoàng Thái phi, ngoài hai vòng thi trên, thần xin được tự mình kiểm tra lần cuối kiến thức người đỗ đầu. Thần muốn xem ngoài kiến thức sách vở, thủ khoa kỳ thi đầu tiên của Đại Việt hiểu biết gì thêm chính sách cai trị, về xã tắc, chúng dân.

Vua Lý Nhân Tổng hỏi:

– Vậy là thêm vòng thi thứ ba?

– Tâu đức vua, cũng có thể gọi như thế nhưng là thi vấn đáp. Chỉ một giám thị và một thí sinh. Không cần đến kinh sách, giấy bút.

Hoàng Thái phi Ỷ lan hỏi:

– Vòng thi này có thay đổi kết quả của hai vòng trước không?

Thái sư Lý Đạo Thành thưa:

– Bẩm Hoàng Thái phi, thần muốn tự mình lần nữa xem người đỗ cao nhất có khả năng hiểu và vận dụng điều đã học vào cuộc sống như thế nào. Vòng vấn đáp không làm thay đổi kết quả hai vòng thi trước.

Vua Lý Nhân Tông và Hoàng Thái phi Ỷ lan đồng tình với mong muốn này của Quốc lão Thái sư Lý Đạo Thành. Sự cẩn trọng và chu đáo của Thái sư là cần thiết. Việc bổ trật người trúng cách qua kỳ thi phải dựa vào sự tiến cử của hai vị Quốc lão Thái sư và Thái úy.

Trước tết, ngựa trạm dồn móng trên đường thiên lý. Chỉ dụ vua bay về dán nơi cửa đình, cửa chùa thôn ổ khắp cả nước. Khoa thi sẽ mở vào tháng Sửu, Ất Mão (1075). Chưa bao giờ làng trên xóm dưới tưng bừng thế. Rộn ràng nhất là các lộ, phủ quanh Thăng Long. Sĩ tử bấy lâu nay mài đũng quần tích cóp chữ thánh hiền, tụ bạ thâu đêm. Họ háo hức hỏi nhau về chuyện ứng thí. Không khí càng có phần náo nức hơn sau tết Nguyên đán. Nó không còn chỉ ở tâm trạng các khóa sinh nữa. Ông bà, bố mẹ thậm chí vợ con người ghi danh cũng hồi hộp, bận bịu không kém.

Mấy giáp Đông Cứu, Song Giang, Xuân Lai… phủ Thiên Đức xem ra vui nhất. Từ cái lò của ông đồ Lê Thành, vùng này có tới gần chục chàng trai học hành rất giỏi giang. Riêng giáp Đông Cứu ba sĩ tử ghi danh vượt vũ môn. Ai cũng mong các chàng trai quê mình giật giải cao cho quê hương nở mày nở mặt. Lòng vui thì con mắt, cái tai cũng vui theo. Ngọn Thiên Thai soi bóng xuống mặt nước sông Thiên Đức xưa nay vẫn đẹp. Nhưng xuân này dường như ai cũng thấy nó lung linh, mỹ lệ hơn. Vượng khí nghe ra cũng sáng sủa hơn. Câu ca quen thuộc là niềm tự hào của người dân Đông Cứu dịp này lại vang lên nhiều hơn:

Trèo lên đỉnh núi Thiên Thai

Thấy đôi loan phượng bay ngoài biển Đông.

Dáng đi, tâm thế người Bảo Tháp, người Đông Cứu nghe ra cũng hồ hởi hiên ngang khác mọi ngày. Núi Thiên Thai rực trong tấm áo xuân muôn sắc. Nam thanh nữ tú hằng đêm tụ tập quanh cái hồ rộng bên chân núi, trước nhà Lê Văn Thịnh. Hò hát, chúc tụng các chàng Nho sinh quê mình cướp bảng vàng về quê. Cái ý cái tình ngầm gửi qua đối đáp:

Bao giờ cho gạo bén sàng

Cho trăng bén gió thì nàng lấy anh

 Cô khác ước ao:

Chi ngon bằng gỏi cá nhồng

Chi vui bằng được tin chồng vinh quy

Cũng không thiếu kẻ phá đám, trêu chọc cho vui:

Chả nên cơm cháo gì đâu

Quay về Đông Cứu theo trâu, thả lờ…

 Bảo Tháp như không ngủ. Chàng sĩ tử nào đã vợ bìu con ríu, thường không ló mặt ra đám hát đúm của bọn trẻ. Nhưng niềm mong ước thầm kín cũng không giấu được. Trên đôi má, ánh mắt các bà vợ Nho sinh dường như còn khao khát hơn: “Kỳ này nhờ đức lang quân, khéo mà mình trở thành bà nọ, bà kia không chừng”. Họ tụ bạ nhai trầu bỏm bẻm nơi sân chùa. Các bậc phụ lão, nhà Nho hay chữ, chức sắc hàng thôn, hàng giáp đàm đạo ở sân đình:

– Cây gạo đầu làng mình tự nhiên năm nay trổ hoa sớm các cụ ạ. Chắc chắn bảng vàng vinh quy về tay Bảo Tháp chứ chẳng ai tranh được vào đấy.

Cụ khác bâng quơ:

– Làng ta được cái hướng đình. Bao nhiêu tài khéo hùng lược giờ mới có cơ đem ra thi thố với thiên hạ đây.

Cụ nữa:

– Tôi đồ họ Lê Văn lần này kết ngôi mộ tổ chứ chẳng bỡn.

– Tôi cũng thấy con chim khách dạo này cứ chõ vào từ đường họ Lê Văn hót véo von, sang cả lắm…

Thôi thì muôn điệu. Gọi là cứ nhộn nhạo suốt tháng sau tết.

Lê Văn Thịnh về Bảo Tháp chuẩn bị nốt những việc cho chuyến “lều chõng” quan trọng nhất đời mình. Cuộc đời Lê Văn Thịnh gắn bó với ba vùng đất. Quê cha thôn Bảo Tháp, giáp Đông Cứu, hương Gia Định. Quê mẹ, thôn Thi Xá, giáp Quách Bì, hương Quế Võ và thôn Chi Nhị, giáp Song Giang không xa Đông Cứu là bao. Từ hôm Thịnh về, đêm nào các bạn học cũng kéo đến ngồi chật từ đường. Lê Văn Thịnh và em Hoàng Mai sửa lễ, thắp hương xin phép cha, mẹ. Thịnh rất cảm động khi thấy cả Nguyễn Ứng Sinh, Hoàng Minh Thứ, Ngô Tiên Đàn… từ các giáp, các hương khác cũng đến. Họ đều là học trò của cụ đồ Lê Thành ngày trước.

Một người con gái lạ lúc nào cũng bám chặt Hoàng Mai. Mai giới thiệu là chị bên chồng. Ngoài Hà Ngô Tự và Nguyễn Lượng, không ai biết đấy là nàng Doãn. Sĩ tử cùng con cháu đứng trước ban thờ ông, bà đồ Lê Thành. Họ khấn xin thầy phù hộ đạt giải cao kỳ thi này. Tình cảm ấm áp vẫn như ngày nào ông đồ còn trụ thế.

Thời gian còn rất ngắn. Phút chia tay bịn rịn, họ hẹn nhau gặp tại Thăng Long. Nguyễn Ứng Sinh có người nhà ở kinh thành nhận đứng ra lo giúp việc thuê trọ cho mấy Nho sinh Đông Cứu.

Sau khi bẩm báo lên vua Lý Nhân Tông và Hoàng thái phi nhiếp chính Ỷ Lan, thái sư Lý Đạo Thành dồn hết tâm trí cho kỳ thi. Những câu hỏi dồn nén trong đầu: “Dùng kinh sách nào để ra đề?”. Đại Việt chấp nhận “Tam giáo đồng nguyên”. Phật giáo làm quốc đạo. Nhưng học vấn xã hội lại phổ cập bằng kinh sách Nho giáo. Đạo giáo tuy hiện hữu song không ảnh hưởng quá lớn tới nhận thức và tín ngưỡng của chúng dân. Việc ra đề thi là quan trọng nhất, cũng sẽ là vấn đề dễ bị hiểu lầm nhất. Nó đụng chạm tới cả ba tôn giáo. Có lẽ phải tham khảo ý tứ của các vị đại diện bên Phật giáo, Đạo giáo. Người mà Lý Đạo Thành nhớ tới đầu tiên là Thái úy Lý Thường Kiệt.

Từ ngày trở lại triều, Lý Đạo Thành càng nhận ra tấm lòng cao thượng của Quốc lão Thái úy. Tuy Lý Thường Kiệt luôn khiêm tốn cho rằng mình kém cỏi về văn học, nhưng Quốc lão Thái úy là bộ óc rất thông tuệ khi cần tham khảo các việc lớn. Lý Đạo Thành vội đến dinh Lý Thường Kiệt ở phường Thái Hòa. Hai vị Quốc lão cung kính vái chào nhau. Lý Thường Kiệt hỏi:

– Chẳng hay Lý Thái sư có gì bảo ban mà đến không báo trước vậy?

– Không dám. Đại nhân phán vậy làm tôi tổn thọ mất. Chẳng là việc trọng vua giao đứng ra lo kỳ thi Minh kinh bác học lần này. Việc lớn quá, càng ngẫm càng thấy lớn quá, mới quá. Lo đến mất ăn mất ngủ, cần lời chỉ bảo của Thái úy đại nhân nên đường đột đến đây.

Lý Thường Kiệt cả cười:

– Lý Thái sư đại nhân là bộ óc thông tuệ nhất triều đình. Loại võ biền như tôi đâu có chữ nào trong đầu mà dám chỉ bảo.

Hai vị Quốc lão nhún nhường nhau mãi. Vào chuyện Lý Thường Kiệt thấy tâm sự của Lý Đạo Thành là chân tình cầu thị. Nỗi lo của thái sư là sự cẩn trọng cho việc khai mở một sự kiện trọng đại của đất nước. Lý Thường Kiệt tham góp:

– Theo ngu ý của tại hạ, bấy lâu nay Nho sinh trong nước học sách gì thì phải thi sách đó.

– Tại hạ cũng nghĩ vậy. Nhưng Đại Việt ta chấp thuận “Tam giáo đồng nguyên”. Có nên phối hợp cả giáo lý nhà Phật và Đạo giáo vào đó?

Lý Thường Kiệt:

– Tại hạ là người ít chữ nhưng cho rằng như thế rất khó cho người thi. Các thầy đồ nước ta xưa nay đều theo cách dạy học của Trung Quốc. Kinh sách Nho gia là sách duy nhất truyền dạy cho học trò. Kinh Phật chỉ giảng trong chùa, chủ yếu khuyên phật tử tu nhân tích đức và làm điều thiện, từ bi hỉ xả. Đạo giáo còn khá xa lạ với đông đảo chúng sinh. Vậy kết hợp là không thể.

Lý Đạo Thành tỏ ra nhẹ nhõm:

– Lời Quốc lão Thái úy khiến tại hạ rũ bỏ được nỗi trăn trở rồi. Kỳ thi này thành công hay thất bại chính là chọn kinh sách gì để ra đề. Đề thi phải dựa vào kinh sách họ đã học. Những kiến thức khác chỉ để tham khảo. Xin đa tạ. Đa tạ Quốc lão Thái úy đại nhân.

Lý Thường Kiệt tiễn Lý Đạo Thành. Trước khi chia tay Quốc lão Thái úy nói thêm:

– Lời bàn góp của tại hạ chỉ là suy nghĩ chủ quan. Đại nhân nên tranh thủ thêm cao kiến của các vị cao tăng, đạo sĩ thì càng rộng đường và êm thuận.

– Vâng, Quốc lão Thái úy thật chu đáo. Tại hạ sẽ làm như vậy.

 Lời khuyên của Quốc lão Thái úy thật khôn khéo. “Lời chào cao hơn mâm cỗ”. Nếu nghe thêm lời bàn góp của các cao nhân, tăng lữ thì càng thuận chiều. Thái sư Lý Đạo Thành liền mời một số vị đại diện giới Phật giáo, Đạo giáo tới phủ. Đô tăng thống Lý Đức Huề, thiền sư Nhất Huệ Linh và viên Trung thư Thị lang Hỏa Vân Ngọ thuộc Trung thư sảnh. Họ đều là những người có tiếng về học vấn đất Thăng Long. Thái sư Lý Đạo Thành mở lời:

– Tôi được đức vua và Hoàng Thái phi nhiếp chính sai tổ chức kỳ thi Minh kinh bác học và Nho học tam trường lần đầu tiên của Đại Việt ta. Lòng cảm thấy lo lắng vô cùng. Việc này quá lớn, quá mới. Nước ta chưa từng có công việc tương tự nào như thế. Mong được các vị chỉ giáo, mách bảo cho.

Trung thư Thị lang Hỏa Vân Ngọ thưa:

– Theo ngu ý của hạ quan có lẽ phải dựa vào cung cách tổ chức thi của nhà Tống.

Đô tăng thống Lý Đức Huề đồng thuận:

– Tôi cũng ngả theo ý kiến của ngài Hỏa Văn Ngọ. Nhà Tống đã mở các khoa thi từ rất nhiều năm trước. Cung cách thế nào đến nay có thể coi như đã định hình. Còn ta, thời gian đã gấp, không dựa vào kinh nghiệm của nhà Tống sẽ khó chuẩn bị kịp.

Lý Đạo Thành đã đoán sẽ là những ý kiến như vậy. Ông nói:

– Nhà Tống là triều đại có kinh nghiệm nhất việc tổ chức thi kén chọn nhân tài. Về hình thức thi, tôi thấy thuận với ý kiến của ngài Đô tăng thống và quan Trung thư sảnh. Song Đại Việt ta đây là lần đầu. Phải tiếp thu điều gì phù hợp, lại phải có cách riêng của ta. Những người đỗ đạt sẽ được bổ ra làm quan. Họ thay mặt triều đình làm cho đất nước yên ổn phồn thịnh. Nhưng nếu tuyển trạch không đúng, thì cũng chính những người đỗ đạt sẽ làm cho đất nước lụn bại, loạn lạc. Xưa nay quân tử và ngụy quân tử bao giờ cũng khó phân định rạch ròi. Vì thế bản quan lo nghĩ nhất việc ra đề. Dựa vào kinh sách nào? Đặt ra câu hỏi gì để lựa được những người tài hết lòng vì xã tắc muôn dân?

 Thiền sư Nhất Huệ Linh:

– Lời quan Thái sư có lẽ cũng là điều quan tâm của tất cả mọi người có mặt ở đây. Theo bần tăng, ta chỉ tham khảo cách tổ chức thi của nhà Tống. Việc ra đề và chấm trạch phải căn cứ vào việc dạy học của nước ta. Bần tăng hỏi khí không phải, chẳng hay Lý thái sư muốn dùng kinh sách gì để ra đề?

Lý Đạo Thành:

– Nước ta ngàn năm bị Trung Quốc đô hộ. Chúng đồng hóa dân ta bằng việc dạy và học chữ Hán. Văn sách cũng từ Trung Quốc đem sang. Kiến thức truyền dạy lâu nay không gì khác ngoài mấy bộ: Nhất thiên tự; Sử học vấn tân, Ấu học ngũ ngôn thi; Minh tâm bảo giám; Minh đạo gia huấn rồi Tứ thư, Ngũ kinh… Ta vẫn phải dựa vào sách đó mà ra đề.

Đô Tăng thống Lý Đức Huề:

– Bần đạo nghĩ rằng sự học lâu nay ở Đại Việt đều dựa vào kinh sách Nho gia. Tuy nhiên chữ thì đóng khung. Nhưng nghĩa thì có thể vận dụng cho phù hợp với quan điểm cai trị của vương triều và văn hóa của người Đại Việt ta.

Lý Đạo Thành như bừng ngộ. Ông bảo:

  Đa tạ Đô tăng thống gợi mở. Lâu nay tôi cho rằng việc một số bậc trí giả đánh đồng Hán học Trung Hoa với Nho học Trung Hoa là khiên cưỡng. Lời đô tăng thống “Chữ thì đóng khung, nhưng nghĩa thì có thể vận dụng” là một gợi mở rất hay. Nó cũng thật hợp với cách tiếp nhận Nho học lâu nay của Đại Việt. Chỉ những gì phù hợp với ý chí, văn hóa người Việt, cha ông ta mới chấp nhận du nhập. Vì thế việc chọn sách, ra đề như thế nào là do ta.

Mọi người sôi nổi hẳn. Thiền sư Nhất Huệ Linh thưa:

 – Điều Thái sư vừa nói mới quá. Bần tăng muốn được đại nhân chỉ rõ thêm ý này.

Lý Đạo Thành phân tích:

– Ngàn năm nay, ông cha ta chấp nhận giáo dục Nho học. Nhưng chỉ du nhập những gì mang yếu tố tiến bộ của tư tưởng Khổng giáo. Đó là dạy học làm người. Học để tu thân, để giữ đạo hiếu. Học trở thành người quân tử, tuân phục đạo quân thần. Lấy “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín” làm phẩm chất…. Những yếu tố tiêu cực, quá khích, tư tưởng nước lớn… đều bị loại bỏ. Đó là sự lựa chọn khôn ngoan và thể hiện tính độc lập. Vì thế Nho học Đại Việt theo ngu ý của tại hạ có khác nhiều với Nho học Trung Hoa. Đề thi vì thế đòi hỏi phải thể hiện được quan niệm tư tưởng cai trị chính thống của triều đại ta và những phẩm chất văn hóa tốt đẹp của người Việt.

Thiền sư Nhất Huệ Linh:

– Điều quan Thái sư vừa nói đã rõ ra rồi đấy. Có lẽ chỉ nên chọn “Tứ thư”, “Ngũ kinh” làm sách ra đề.

Lý Đạo Thành thưa lại:

– Đúng thế ạ. Đó cũng là những kinh sách mà sĩ tử cả nước học tập, ôn luyện.

Trung thư Thị lang Hỏa Văn Ngọ:

– Thưa quan Thái sư “Tứ thư”, “Ngũ kinh” là cả một bể chữ. Xin đại nhân chỉ định lấy bộ kinh sách nào để Trung thư sảnh chuẩn bị trình việc ra đề?

Lý Đạo Thành nhìn hai vị Đô tăng thống và Thiền sư. Không ai có ý kiến gì thêm. Thái sư nói:

– Không biết các đại nhân nghĩ sao, riêng tôi cho rằng chỉ cần dựa vào ba quyển: “Luận ngữ”, “Trung dung” và “Kinh Dịch” là đủ.

Đô tăng thống Lý Đức Huề đồng tình:

– Bần đạo cũng nghĩ vậy. Tinh hoa của “Bách gia chư tử” Trung Hoa dường như đều chắt lọc trong ba quyển đó.

 Cuộc luận bàn trở nên sáng rõ. Lý Đạo Thành mừng nhất là cả Đô tăng thống Lý Đức Huề và Thiền sư Nhất Huệ Linh không ai nhắc tới việc tham khảo kinh sách Phật giáo và Đạo giáo. Học sách gì thi sách đó. Họ đã giúp Lý Đạo Thành cất được băn khoăn về mối quan hệ “Tam giáo” trong việc ra đề thi. Ông cám ơn đạo sĩ, thiền sư đã gánh chung công việc nặng nề, mới mẻ của xã tắc. Thái sư Lý Đạo Thành Hỏa Văn Ngọ lại:

– Ta sẽ mời các quan ra đề. Chọn người chấm thi. Đề thi cần soạn thành năm bộ. Trình đức vua và Hoàng Thái phi chọn lấy hai. Một bộ chính thức và một bộ dự phòng. Việc của Trung thư sảnh là tìm điểm thi. Dựng trường thi. Tổ chức coi thi. Thu quyển. Lễ truyền lô, xướng danh. Rồi thủ tục, cung cách vinh quy bái tổ, nhận ân sủng của đức vua ban… Ôi bao nhiêu là việc mà ta chưa thể nghĩ ra hết. Ngươi hãy quán xuyến tất cả cho đừng sai sót gì.

Hỏa Văn Ngọ cung kính:

– Trung thư sảnh sẽ hết sức chu đáo lo các việc quan Thái sư giao .

Lý Đạo Thành dặn thêm:

– Đây là lần đầu, đừng để sai sót xảy ra.

– Hạ quan hiểu ạ.

Trung thư sảnh chọn khu đất rộng cách hồ Lục Thủy nửa dặm làm trường thi. Đất này là quân doanh thuộc bên Võ ban. Bốn dãy nhà tạm dựng lên chia hơn trăm phòng nhỏ. Cung cách báo danh, soát xét, nhận đề, nộp quyển… thế nào đều được tập dượt thuần thục. Ai được chọn tham gia tổ chức kỳ thi chọn nhân tài lần đầu tiên của quốc gia Đại Việt đều rất hào hứng. Thăng Long đã sẵn sàng đón sĩ tử cả nước đến thi tài.