CHƯƠNG 6: TAM KIỆT LÝ TRIỀU


Trở lại nội tình nhà Bắc Tống (13) vài năm trước. Mậu Thân (1068), vua mới nước Tống là Tống Thần Tông lên thay Tống Anh Tông qua đời vì yểu mệnh. Đó là triều đại thứ sáu. Tống Thần Tông tên là Triệu Trọng Châm, húy Triệu Húc. Húc không phải con của Tống Anh Tông mà là con Triệu Thự một vương tử trong hoàng tộc. Tống Anh Tông không có con trai.

Nhận di mệnh của Tống Anh Tông khi đang làm Án sát sứ An Châu, Triệu Húc được đón về Biện Kinh (14) lên ngôi lúc 19 tuổi. Sử sách Trung Hoa mô tả Triệu Húc là chàng trai có tướng mạo khác người. Mặt to, cổ lớn, mắt sáng, tinh tướng đế vương. Húc rất ham học, nhiều khi đọc sách quên cả ăn. Triệu Húc lên ngôi báu đặt miếu hiệu Tống Thần Tông, Hi Ninh năm thứ nhất. Giai đoạn đó nhà Bắc Tống gặp khủng hoảng sâu sắc. Mùa màng thất bát. Người dân đói khổ. Nội bộ cung đình chia hai phái tân tiến và bảo thủ kình chống nhau. Lên ngôi được một năm, Tống Thần Tông nghĩ ngay tới việc phải tìm một thuộc hạ giỏi có khả năng vực nhanh nền kinh tế. Ông ta nhắm tới Vương An Thạch.

Kỷ Dậu (1069), vua Tống triệu Vương An Thạch về triều ban chức Tham tri chính sự, nửa năm sau phong làm tể tướng. Vương An Thạch, nhà thơ thời Bắc Tống. Được coi là nhân vật có tài kinh bang tế thế. Vương An Thạch ôm chứa trong tính cách những mâu thuẫn khó lý giải. Tâm hồn bay bổng. Tài quản trị siêu phàm nhưng cũng rất hiếu chiến. Vương An Thạch rừng rực tham vọng xâm chiếm đất đai các nước láng giềng mở rộng lãnh thổ nhà Tống. Vừa nắm quyền, lập tức Vương An Thạch đề ra chính sách “Tân pháp” còn gọi là “Biến pháp”. Trong đó quy định các phép tắc lớn như:

– Phép thanh miêu: khi lúa còn xanh thì nhà nước cho dân vay tiền, đến khi lúa chín thì dân phải trả tiền gốc, tính theo lệ định mà trả thêm tiền lãi.

– Phép miễn dịch: cho những người dân đinh không phải sưu dịch được nộp tiền, để nhà nước lấy tiền ấy thuê người làm.

– Phép thị dịch: đặt ra một sở buôn bán ở chốn kinh sư, những hàng hóa gì dân sự bán không được thì nhà nước mua mà bán giúp. Nhà buôn ai cần vay tiền thì cho vay, rồi cứ tính theo lệ nhà nước mà trả tiền lãi.

Phép bảo giáp: lấy dân làm lính. Chia ra 10 nhà làm một bảo, 500 nhà làm một đô bảo. Mỗi bảo đặt hai người chánh phó để dạy dân luyện tập võ nghệ.

– Phép bảo mã: nhà nước giao ngựa cho các bảo phải nuôi, có con nào chết thì dân (trong bảo góp tiền) mà bồi thường…

Chỉ thời gian ngắn, nền kinh tế nhà Tống đi vào ổn định và phát triển. Tể tướng họ Vương tiến thêm một bước. Ông ta cho sửa đổi hệ thống thi cử. Khuyến khích việc học và thi không dựa quá nhiều vào kinh sách Khổng, Mạnh. Cần làm cho người học tiếp nhận nhiều hơn những kiến thức có giá trị thực tiễn cuộc sống. Sau ba năm áp dụng, “Tân pháp” tỏ ra khá phù hợp với các đô thị dân cư đông đúc. Thói quen canh tác tập trung, tiến bộ. Hoạt động giao thương thuận lợi. Hàng hóa dồi dào. Ngân khố nhà Tống tăng lên… Vương An Thạch huy động được nguồn lực cho nhà Tống. Song mặt trái, chính sách này tác động nặng nề đến người dân ở vùng xa xôi. Canh tác nhỏ lẻ, manh mún. Giới điền chủ, chúa đất và thương gia do chính sách này phải đóng thuế nhiều hơn. Quan lại trong cung đình xưa nay dựa vào họ cũng vì thế bị giảm thu nhập. Song sai lầm nhất của Vương An Thạch là đụng chạm đến tư tưởng cai trị và khuôn mẫu giáo dục lấy học thuyết Khổng – Mạnh làm nền tảng từ bao đời. Nó đã ăn vào máu, vào nếp nghĩ, trở thành khuôn thước đạo đức của xã hội. Sửa đổi cung cách và nội dung thi cử, coi nhẹ giáo lý Khổng Mạnh là đụng chạm đến nền tảng tư tưởng cai trị của triều đình. Quan lại bảo thủ trong triều đình Tống Thần Tông liên kết với giới nhà giầu ra mặt chống “Tân pháp”.

Để đẩy mâu thuẫn nội bộ ra bên ngoài, Vương An Thạch trình Tống Thần Tông kế sách thâm độc. Tuy nó không mới mẻ gì nhưng lại hữu hiệu muôn đời với các triều đại phong kiến Trung Hoa. Đó là gây chiến tranh, đem quân thôn tính một nước nhỏ yếu. Lần này Vương An Thạch nhắm tới Đại Việt:

– Tâu hoàng thượng, xứ Giao Chỉ hiện trong giai đoạn vô cùng rối ren. Giao Chỉ quận vương Lý Càn Đức là một đứa trẻ con. Quyền hành nằm cả trong tay một người đàn bà. Mà người đàn bà ấy vừa xuống tay giết chết kẻ tình địch với mình là Thượng Dương, vợ cả Lý Thánh Tông cùng 76 cung nữ. Nội bộ Lý triều đang kình chống nhau quyết liệt.

Tống Thần Tông nói:

– Nội tình xứ Giao Chỉ đúng là có bề không yên. Nhưng Lý triều có hai thuộc hạ rất giỏi Lý Thường Kiệt và Lý Đạo Thành là những kẻ không thể xem thường.

Vương An Thạch:

– Viên quan hoạn Lý Thường Kiệt và viên quan văn Lý Đạo Thành là hai cây cột trụ chống đỡ vương triều Lý nhiều năm nay, nhưng sau vụ ân oán vừa rồi cũng trở thành cừu thù. Lý Đạo Thành bị biếm chức, đưa vào trông coi châu Hoan. Lý Thường Kiệt thâu tóm toàn bộ quyền hành. Nhưng viên tướng này đã cao tuổi, cầm quân giỏi song điều hành triều chính kém. Hai cái cột trụ ấy cũng mọt ruỗng rồi.

Tống Thần Tông suy nghĩ lúc lâu rồi hạ chỉ:

– Trong số các nước phên thuộc, xứ Giao Chỉ xưa nay vẫn là kẻ cứng đầu nhất. Ta cũng rất muốn xóa nó đi. Lời tâu trình của tể tướng cũng hợp ý ta nhưng cần chuẩn bị thật kỹ. Tể tướng hãy cho người vào đó thăm dò thực hư nội tình xứ ấy rồi bẩm tấu để ta quyết định.

– Thần xin tuân chỉ.

Vương An Thạch lập tức chuẩn bị quân cơ. Thạch muốn gây chiến với Đại Việt càng nhanh càng tốt để đẩy mọi chống đối chính sách của mình ra ngoài triều. Chiến tranh là việc lớn. Nó sẽ hút mọi quan tâm của quần thần nhà Tống vào đó. Đứng đầu phe bảo thủ chống Vương An Thạch là Thái phó Ngô Sung. Sung dâng Tống Thần Tông lời can:

– Muôn tâu hoàng thượng, chính sách “Tân pháp” gây nên nạn thiếu đói ở nhiều châu quận hẻo lánh. Hai vùng Vân Nam, Quảng Tây sát Giao Chỉ mấy năm nay vì cải cách mà dân chúng khổ sở. Lòng người oán trách triều đình ngày một tăng. Nạn cướp bóc xảy ra. Kỷ cương rối loạn. Nay lại đem quân xâm chiếm Giao Chỉ, lấy vùng đó làm bàn đạp thì lành ít dữ nhiều.

Vương An Thạch hỏi:

– Thái phó đại nhân lấy tin đó từ đâu?

Ngô Sung không trả lời Vương An Thạch. Ông ta bẩm với Tống Thần Tông:

– Muôn tâu hoàng thượng. Các quan coi sóc nơi ấy đã nhiều lần bẩm báo về triều. Những phép “Thanh Miêu”, “Miễn dịch”, “Bảo mã”… làm rối loạn thói quen canh tác của dân. Bao đời nay họ sống tản mạn. Tự cung tự cấp là chính. Triều đình cần nghe chúng dân mà sửa đổi chứ không nên lấp liếm đi.

Lời tâu của Ngô Sung khiến nhiều đại thần phân vân. Tống Thần Tông cũng bối rối. Cuối năm 1073, Vương An Thạch càng lún sâu vào các cuộc cãi vã với phe bảo thủ. Do sức ép quá lớn từ quần thần, đầu năm 1074, Tống Thần Tông bất ngờ xuống chiếu bãi chức tể tướng của Vương An Thạch. Chính sách của họ Vương trở thành thứ nửa dơi nửa chuột. Mỗi nơi áp dụng một kiểu càng làm nền kinh tế nhà Tống trì trệ. Quyền lực triều đình không thấm tới dân, nhất là các vùng xa kinh đô.

Không chỉ nhà Tống ôm tham vọng xâm chiến Đại Việt. Hai nước Liêu và Tây Hạ ở phía bắc cũng luôn nhòm ngó nhà Tống. Mỗi khi nội tình Tống triều có biến lại hai nước ấy lại xuất binh tràn xuống Trung Nguyên. Tống Thần Tông đã mấy lần phải cắt đất đổi lấy hòa hoãn với hai nước cừu thù này.

Sau khi cách chức Vương An Thạch, Tống Thần Tông trực tiếp điều hành nền kinh tế. Ông ta sửa một số điều trong “Tân pháp” nhưng dường như đã mất thiêng. Đám quần thần theo Ngô Sung chỉ cốt chống Vương An Thạch vì bị mất quyền lợi và giữ quan niệm bảo thủ chứ không hiến được kế gì hay hơn. Đầu năm 1075, Tống Thần Tông không nhìn ra ai khả dĩ, ông ta lại cho gọi Vương An Thạch về triều nhận lại chức cũ. Mọi đối địch trong nội bộ nhà Tống vẫn còn nguyên đó, nhưng Tống Thần Tông vẫn tin ở Vương An Thạch.

Nắm lại quyền, Vương An Thạch vực dậy ý đồ chiến tranh một cách ráo riết, trắng trợn hơn. Các châu, phủ phía nam sát Đại Việt hối hả xây dựng thành, trại làm nơi tập kết lương thảo, khí cụ. Vương An Thạch bẩm tâu Tống Thần Tông kế sách hòa hoãn với hai nước Liêu và Tây Hạ. Điều động quân từ phía bắc về. Quân bộ luyện tập ở Quảng Tây. Quân thủy rèn binh ở Quảng Châu. Động thái bất thường của quân đội nhà Tống được cấp báo lên Thái úy Lý Thường Kiệt. Quốc lão Thái úy cho người sang đất Tống do thám. Đúng là Vương An Thạch đang dồn sức phục hồi các ải, lũy. Hắn còn cho người tới các động, trại mua chuộc các thủ lĩnh, động chủ người thiểu số.

Thái úy Lý Thường Kiệt hiểu rất rõ dã tâm của viên tể tướng đầu triều nhà Tống. Cuộc xâm lăng sẽ sớm diễn ra. Nhà Lý lúc này cần đến mọi nguồn lực, mọi bộ óc cho cuộc kháng Tống. Hơn một năm xảy ra vụ “Thảm án cung Thượng Dương” nội tình nhà Lý có bề yên ổn hơn. Nhưng là yên ổn bên ngoài. Thái sư Lý Đạo Thành bị hạ chức phải vào trấn thủ châu Hoan. Lý Thường Kiệt trở thành vị thái tể nắm cả quân sự và điều hành chính sự. Về nội trị, Lý Thường Kiệt không thành thạo bằng Thái sư Lý Đạo Thành. Nhưng hoàn cảnh bắt buộc như vậy. Ông không tránh được cái tiếng tham quyền, ủ mưu gạt bỏ Lý Thái sư. Quốc lão Thái úy không thể giải tỏa nghi kỵ đó. Nắm cả quân sự, chính sự quyền nghiêng thiên hạ, nhưng Lý Thường Kiệt không vui. Việc nước đè nặng hai vai khiến ông thêm mệt mỏi.

Là người tuyệt đối tận trung với nhà Lý, trước họa xâm lăng của nhà Tống, Quốc lão Thái úy gạt bỏ tất cả những chuyện đó sang một bên. Lúc này phải hàn gắn mối rạn nứt triều chính. Phải vời Lý Thái sư trở lại triều cùng ông gánh vác việc triều chính. Làm việc này đem lại mấy cái lợi. Quần thần nhà Lý luôn nhìn vào mối quan hệ giữa ông và Lý Đạo Thành. Tiếng nói của hai vị Quốc lão luôn có trọng lượng quyết định tới đức vua. Giải tỏa nỗi nghi ngờ trong lòng họ lúc này, tập hợp sức mạnh quân dân, không gì tốt hơn là hai vị quốc lão phải thuận hòa. Nghĩ đến đó, thái úy Lý Thường Kiệt thấy lòng mình nhẹ nhõm. Hành động chuẩn bị chiến tranh của nhà Tống, dù vua và Hoàng Thái phi nhiếp chính chưa có chỉ dụ gì nhưng vị tướng già biết mình vẫn là người phải chống đỡ. Lý Thường Kiệt vào triều gặp Hoàng Thái phi nhiếp chính Ỷ Lan:

– Tâu Hoàng Thái phi nhiếp chính, lão thần nghĩ vụ việc đau lòng năm trước khiến triều đình rạn nứt. Quần thần nhiều người không hiểu nên dư luận cứ âm ỉ mãi. Đã đến lúc phải khiến lòng người quy tụ trở lại.

Ỷ Lan nghe những lời gan ruột của Lý Thường Kiệt cũng như trút được gánh nặng. Đã một năm nay bà chịu nhiều lời đàm tiếu. Vụ sát hại hoàng hậu Thượng Dương và 76 cung nữ xảy ra bởi quá nhiều tấu trình sai lạc. Triều đình náo loạn, rối ren. Buộc phải có hành động cứng rắn. Nhưng từ ngày ấy tâm trạng Hoàng Thái phi như chìm trong tăm tối. Nay nghe lời tâu của Quốc lão Thái úy Lý Thường Kiệt, Ỷ Lan như gặp lại ánh sáng. Bà hồ hởi:

– Lời Quốc lão Lý Thái úy rất hợp với điều ta trăn trở. Sự việc không hay ấy bản thân ta dằn vặt nhiều bởi một phút nóng giận mất khôn. Ta đã phát tâm nguyện suốt đời ăn chay tạ tội. Nhưng công việc nhiếp chính nặng nề vẫn phải gánh. Ngày đêm không lúc nào được nhẹ lòng.

Lý Thường Kiệt thưa:

– Hoàng Thái phi quả là người không cố chấp. Chuyện gì đã xảy ra thì không thể làm lại được. Lão thần cũng bị người đời đàm tiếu, dị nghị hiểu sai.

Song việc trọng của xã tắc, muôn dân lúc này là phải chặn bàn tay của giặc Tống.

– Ta cũng đã được bẩm báo mưu đồ của Tống Thần Tông và Vương An Thạch, Quốc lão có kế sách gì chưa?

– Tâu Hoàng Thái phi, kế sách phòng bị thì lúc nào lão thần cũng phải trù tính. Nhưng việc trong nhà có yên thì biên cương mới vững chắc được. Điều hành chính sự lúc này cần người thạo việc, có kinh nghiệm. Lão thần mới rảnh tay chống giặc.

Hoàng thái phi Ỷ Lan hỏi:

– Ý quan thái úy là…?

– Vâng, tâu Hoàng Thái phi, thần rất mong đức vua xuống chiếu gọi Lý Đạo Thành về triều. Việc nội trị thần xin trả lại. Lý Thái sư là người thạo việc này. Uy tín lại lớn. Lý Đạo Thành quay về triều thì mọi hiềm nghi và đồn thổi sẽ tự nhiên hết. Quần thần sẽ gắn kết trở lại.

Ỷ Lan quay mặt đi. Hình như bà kìm cảm xúc bất chợt. Lúc sau bà bảo:

– Tấm lòng trung trinh của Quốc lão Thái úy vằng vặc tựa trăng rằm. Nhà Lý thật hồng phúc có bậc công thần như thế. Ta không biết nói lời nào khác để đa tạ tấm lòng cao thượng quên mình vì xã tắc của Quốc lão Thái úy.

– Tâu Hoàng Thái phi. Lão thần đã theo hầu hai bậc tiên đế luôn hiểu rằng nếu để nội bộ triều đình nghi kỵ rạn nứt thì là cái họa mất nước sẽ đến ngay sau.

Ỷ Lan sốt sắng:

– Ngay sau cuộc trò chuyện này, ta sẽ tâu đức vua xuống chiếu vời Thái sư Lý Đạo Thành trở lại triều.

– Lão thần rất mừng. Nhân đây xin bẩm trình kỹ hơn về mạn bắc.

Nghe Lý Thường Kiệt tâu trình một lượt, Hoàng Thái phi Ỷ Lan nói:

– Cái họa bị xâm lăng như vậy đã hiện ra trước mắt. Đại Việt ta ở sát bên một kẻ to lớn, lắm tham vọng như triều đình phương bắc thì lúc nào cũng phải cảnh giác. Quốc lão Thái úy là cây cột trụ của nhà Lý, đức vua và ta phải trông cậy cả vào Thái úy. Cần gì Quốc lão cứ nói không phải câu nệ. Tại buổi triều kiến ngày mai Quốc lão Thái úy trình bày mọi phương án để các đại thần, sở bộ cùng tham góp.

– Tâu Hoàng Thái phi, thời gian động binh của nhà Tống sẽ không lâu nữa. Lão thần rất mong đức vua và Hoàng Thái phi ngay ngày mai có chỉ dụ để huy động quân dân.

… Vậy là hơn một năm bị biếm chức, Lý Đạo Thành được gọi về triều. Ông được phong chức Thái phó Bình chương quân quốc trọng sự Kém hơn một bậc trước đây nhưng vẫn gánh vác công việc Thái sư đầu triều. Thái úy Lý Thường Kiệt tự rút khỏi những công việc của Văn ban. Quốc lão Thái úy dồn toàn sức lo việc quân cơ. Quần thần nhà Lý đỡ hẳn nghi kỵ, hiềm khích. Lý Đạo Thành biết việc phục chức cho mình là do Lý Thường Kiệt. Song tâm trạng ông vẫn như con chim bị thương. Lý Đạo Thành luôn

tự xếp mình dưới Lý Thường Kiệt một bậc. Trong các phiên triều kiến Lý Đạo Thành luôn nhún nhường mời Lý Thường Kiệt nói trước.

Dẫu có lúc hiểu lầm hoặc nhất thời không thuận, trước hiểm họa bị nhà Tống thôn tính, ba nhân vật kiệt hiệt triều đại Lý Nhân Tông đã biết lấy xã tắc và muôn dân làm trọng. Sự đồng lòng giữa Hoàng Thái phi nhiếp chính Ỷ Lan, Thái úy Lý thường Kiệt và Thái sư Lý Đạo Thành đem lại cho Đại Việt sức mạnh tinh thần to lớn chuẩn bị đối phó với nhà Tống.

Để giúp bạn hiểu rõ hơn về nội dung, sau đây là phần chú thích của chương 6. Mời bạn nghe cùng BÚC CÁC:

(13). Nhà Tống, Trung Quốc (960 – 1279) chia hai giai đoạn. Bắc Tống (960 -1127) lãnh thổ kéo dài tới phía bắc giáp với hai nước Liêu và Tây Hạ. Từ 1127, bị nhà Kim nổi lên dồn ép, nhà Tống phải lui về nam sông Dương Tử. Giai đoạn này gọi là nhà Nam Tống (1127 – 1279). 1279 Nam Tống bị nhà Kim tiêu diệt.

(14) Biện Kinh là kinh đô nhà Bắc Tống, nay thuộc phủ Khai Phong, tỉnh Hà Nam. Thời Nam Tống kinh đô chuyển về Lâm An, Hàng Châu, Trung Quốc.