Sự xuất hiện của nàng Doãn vợ ông lang Thịnh và câu chuyện về thân phận người tù đặc biệt của Trại đầu Thao Giang làm náo loạn bản Thu Cúc. Cái chức vị quá lớn của ông lang Thịnh khiến người dân bé nhỏ vùng rừng xa ngái vừa kính trọng vừa sợ sệt. Mọi người đổi cách xưng hô. Tác phong cung kính. Nhưng chỉ vài ngày đầu. Ở nơi tận cùng hẻo lánh này, chức tước và lối thưa bẩm quá trang trọng không quen với họ. Bao tháng nay sống với ông lang Thịnh, thầy giáo Thịnh họ chỉ thấy gần gũi, ấm áp chả cách bức, đáng sợ gì. Vậy là người gọi ông lang Thịnh, người gọi thầy giáo Thịnh. Già bản Thu Cúc, những ai từng đi lính triều đình thì cung kính thưa bẩm quan Thái sư, quan Tể tướng đại nhân… Thái sư Lê Văn Thịnh xin dân bản cứ gọi ông như cũ. Ông thích như thế.
Niềm vui tràn ngập, bản Thu Cúc ngả trâu, giết lợn mở hội mừng đón nàng Doãn. Họ mừng cho ông lang Thịnh, thầy giáo Thịnh từ nay không còn cô đơn nữa. Cũng có những cặp mắt thật buồn ở các cô gái bản. Song cả Thu Cúc tưng bừng. Già trẻ, trai gái quây quần bên đống lửa trước ngôi nhà sàn của ông lang nhà trời. Nhảy nhót, uống rượu múa hát thâu đêm.
Vợ chồng Thái sư Lê Văn Thịnh cảm thấy như được hồi sinh. Họ nhớ lại những ngày hạnh phúc đầu tiên ở quê Bảo Tháp. Năm tháng sống cùng chồng ở kinh thành Thăng Long, Doãn phải giấu đi nỗi buồn đeo đẳng. Hơn chục năm lấy nhau cả hai vợ chồng đều khỏe mạnh mà Doãn Hoàn Doãn không kết nụ sinh con. Chồng nàng, Thái sư Lê Văn Thịnh gánh trọng trách triều đình lớn quá. Dồn hết tâm sức vào công việc, dường như tối nào ông về dinh cũng đã rất muộn. Luôn trong tình trạng mệt mỏi. Từ khi đức vua Lý Nhân Tông ban chiếu thực hiện việc cải cách kinh tế Lê Văn Thịnh càng bận rộn. Bao nhiêu chuyện phát sinh đều phải qua tay Thái sư đầu triều giải quyết. Lê Văn Thịnh là người chịu ảnh hưởng sâu sắc triết lý sống của đức Mạnh Tử. Hết lòng vì xã tắc, muôn dân, đến nỗi nhiều khi quá cầu toàn. Người giầu lòng trắc ẩn thường cũng yếu đuối trong tình cảm. Thái sư Lê Văn Thịnh đã khóc khi nghe ở đâu đó xảy ra thiên tai làm nhiều người đói, người chết.
Lê Văn Thịnh rất yêu vợ, thương vợ cô đơn chốn phồn hoa. Nàng khát khao có một đứa con để nhà cửa đầm ấm. Để không khí đỡ lạnh lẽo trong cái dinh thự rộng mênh mông mà hầu như chỉ có bóng nàng chờ chồng. Mỗi lần Doãn Hoàn Doãn tâm sự về chuyện con cái, Lê Văn Thịnh lại vỗ về an ủi vợ: “Anh nghĩ nó như cái duyên ấy. Lúc nào đến sẽ đến thôi”. Buồn thì nói vậy, Doãn Hoàn Doãn thương chồng vất vả, gánh trên vai việc dân việc nước quá lớn. Nàng không muốn chồng mình phải bận tâm thêm chuyện gia đình.
Giờ đây Doãn Hoàn Doãn thật sự hạnh phúc sau bao khắc khoải âu lo. Nàng kể cho chồng về những ngày lánh nạn, che giấu thân phận. Việc đi tìm em Mai. Lê Văn Thịnh ôm vợ:
– Nàng có biết sau lần gặp ấy, vợ chồng em Mai náu thân ở đâu không?
Doãn khóc như có lỗi:
– Lúc ấy sợ triều đình truy đuổi. Thiếp cùng phu nhân quan lớn Vũ Uẩn chỉ kịp báo tin rồi chị em mỗi người mỗi ngả. Từ đó có dò hỏi nhưng không ai biết ở đâu. Thiếp thật có lỗi.
Lê Văn Thịnh an ủi vợ:
– Ta hỏi thế thôi, nàng có lỗi gì đâu. Đã có lúc ta nghĩ đến chuyện xấu nhất. Giờ vợ chồng mình đoàn tụ được là may lắm rồi. Đức vua không bắt tội họ hàng, người thân thì vợ chồng em Mai cũng sẽ yên ổn thôi.
– Vâng, thiếp cũng nghe hai anh Hà Ngô Tự, Nguyễn Trực Nhẫn nói ngoài chàng ra không ai bị làm sao cả.
Có lẽ những ngày tháng này Doãn Hoàn Doãn mới thực sự được làm vợ. Một người vợ bình thường như bao người đàn bà thôn quê. Doãn vô cùng mãn nguyện. Nàng không gọi chồng là tướng công nữa. Những tiếng chàng, thiếp đắm đuối, dân dã hơn là anh, em… trong căn nhà ngập nắng, gió. Cả hai thật vui. Niềm hứng khởi yêu đương trào dâng. Và điều kỳ diệu quá đỗi bất ngờ đã đến với họ.
Một sớm nàng Doãn ôm chặt chồng. Vừa cười vừa khóc. Lê Văn Thịnh lấy làm lạ. Doãn nói như reo mà lại nghe như thì thầm bên tai chồng:
– Chàng ơi. Thiếp có rồi.
Lê Văn Thịnh hỏi hấp hả:
– Có gì hả em?
Doãn Hoàn Doãn cầm tay Thịnh đặt lên bụng mình:
– Em có chửa rồi.
Lê Văn Thịnh đần mặt một giây rối rít:
– Thật hả em. Chắc không?
– Thật mà chàng ơi. Em đã cố chờ. Một tháng rồi. Em hồi hộp đếm từng ngày, giờ mới dám nói với chàng. Mình sắp có con chàng ơi. Nhưng chàng đừng cho dân bản biết vội.
Lê Văn Thịnh ôm lấy vợ, sung sướng trào dâng:
– Ôi. Doãn của anh. Trời, Phật thương hoàn cảnh mình mà độ cho đấy.
Từ hôm ấy, ngôi nhà nhỏ của vợ chồng ông lang Thịnh lúc nào cũng như có tiếng hát ca rộn rã. Rộn rã vì trẻ con học bài. Rộn rã bởi tâm trạng ngất ngây chỉ muốn cất lên lời.
… Chuyến đi hái thuốc sau đó, Lê Văn Thịnh lựa những cây thuốc tốt nhất có tác dụng bồi bổ cho thai. Ông lọc những củ tam thất, mật nhân và nấm ngọc cẩu già nhất, to nhất có dược tính cao nhất chế thành món thuốc đặc biệt. Ông kỳ khu cẩn thận sao tẩm, pha chế hoàn tán cho Doãn uống.
Những ngày tháng ấy giúp Lê Văn Thịnh thấy niềm hạnh phúc thực sự nó giản dị và đơn sơ biết bao. Ngẫm lại quãng thời gian ở chốn quan trường. Tự mình đưa mình vào một cái khuôn thước, bắt buộc phải theo. Cố nén mình cho vừa. Tự do cá nhân, ý muốn cá nhân không còn nữa. Cuộc sống chật chội và vô nghĩa mà lúc ngồi ở đó người ta không nhận ra. Lợi lộc và danh tiếng như làn sương phủ dễ làm tối mắt. Lời nịnh bợ, êm tai, biết là giả dối vẫn làm người ta bay trong ảo vọng. Thật phí phạm một đời người. Thật tủi hổ cho chữ nghĩa. Lê Văn Thịnh đã phải trả cái giá quá đắt.
Sinh thời cha ông, cụ đồ Lê Thành từng dặn học trò rằng: “Đi thi đỗ đạt rồi thì tốt nhất chọn nghề bảo học mà báo đáp chúng dân. Nếu buộc phải làm quan hãy kiếm cớ mà từ quan càng sớm càng tốt”. Sau ngày bị nạn, Lê Văn Thịnh sửng sốt nhớ lại lời cha. Hối tiếc nhưng không kịp nữa.
Đêm đêm ôm người vợ yêu trong lòng, nghĩ đến những người dân bản Thu Cúc, nghĩ tới già bản Bùi Điểu, đến Hà Ngô Tự, Nguyễn Trực Nhẫn, Vũ Uẩn, Khiêm Tản và đặc biệt Quốc lão Thái úy Lý Thường Kiệt, Lê Văn Thịnh càng thấy mình mang ơn họ lớn biết bao. Người tốt trong chốn quan trường bao giờ cũng ít ỏi. Những người giữ được lòng nhân ái như họ càng ít hơn.
Việc bảo học và chữa bệnh cho dân bản Thu Cúc thuận lợi hơn rất nhiều từ ngày có nàng Doãn. Lê Văn Thịnh hướng dẫn vợ cách sao tẩm thuốc. Lúc rảnh rỗi nàng thêm thú vui đến thăm các nhà dân trong bản. Thăm hỏi sức khỏe, khâu vá áo quần cho trẻ con. Chúng gần gũi nàng. Doãn dậy chúng cách sống sạch sẽ. Những bé gái lớn được Doãn tâm sự chỉ bảo. Chúng yêu mến gọi Doãn là mế. Căn nhà của vợ chồng ông lang Thịnh lúc nào cũng có trẻ con đến chơi.
Một hôm Khiêm Tản ở Trại đầu Thao Giang lên bản Thu Cúc thăm vợ chồng ông lang Thịnh. Khiêm Tản kể tù khổ sai hầu hết bị bệnh phù thũng nặng. Có người chết gục khi đang làm việc trên đồng. Số phận tù chung thân khổ sai là vậy. Lao động nặng nhọc. Ăn uống kham khổ. Cái chết đến bất cứ lúc nào. Đó là điều mà người đời cho là chuyện bình thường. Khiêm Tản thì khác. Viên cai trại này băn khoăn, thương người tù. Một cai ngục có tấm lòng như thế thật hiếm. Doãn Hoàn Doãn nghe Khiêm Tản nói, chảy nước mắt. Ông lang Thịnh hỏi rất kỹ căn bệnh người tù thường gặp rồi hứa sẽ chế thuốc.
Nửa tháng sau, Khiêm Tản lên đón ông lang Thịnh xuống thăm bệnh cho người tù. Chướng khí, nguồn nước và lao động nặng nhọc là nguyên nhân khiến người tù bị chết. Con suối mà trại dùng làm nước ăn, nhìn trong vắt nhưng chứa nhiều chất độc hại do lá cây mục và xác động vật phân hủy. Nhiều ngày uống thứ nước đó bệnh phù thũng, đường ruột, dạ dày… phát tác. Bệnh xương khớp lại do khí ẩm, thiếu ánh sáng và lao động nặng nhọc. Người thể trạng yếu, bệnh xương khớp phát tác nhanh hơn. Những trường hợp chết bất đắc kỳ tử trong lúc làm việc thường là do khớp ăn vào tim. “Khớp đớp tim” là thế.
Chia tay Khiêm Tản, ông lang Thịnh nói:
– Ngài cho họ uống theo lời dặn tôi ghi đây. Tù nhân nào yếu quá ngài nên bớt việc cho họ. Ấy là tôi tiện thể nói vậy, mong ngài chớ hiểu lầm.
Khiêm Tản khoanh tay thưa:
– Thái sư đại nhân thật là người nhân hậu. Người dân bản Thu Cúc kính biết ơn quan Thái sư lắm. Người tù không được phép biết thân phận quan Thái sư nhưng trong lòng họ cũng thầm ơn đại nhân lắm.
– Tôi đã bảo ngài đừng xưng hô như thế. Tôi có còn là Thái sư đâu. Ngài cứ gọi tôi là ông lang Thu Cúc là tôi vui lắm rồi.
– Thưa, dù đại nhân không còn giữ chức trong triều đình nhưng với hạ quan ngài vẫn là vị Thái sư của dân Đại Việt ạ.
… Thuốc của ông lang Thịnh giúp nhiều người tù đỡ đau đớn. Khiêm Tản nghe lời khuyên của Lê Văn Thịnh bớt việc cho những tù nhân ốm đau nặng.
Thái phó Hỏa Văn Ngọ mải lo cung cúc hầu vua Lý Nhân Tông, tìm đủ thú vui dâng vua hòng được ngồi lên cái ghế Thái sư nên có chút lơi lỏng đến chuyện tù đày Lê Văn Thịnh. Song đúng như lời Lê Văn Thịnh nói với Khiêm Tản ngày ông mới bị đưa lên trại: “Tai vách mạch rừng”. Tin Lê Văn Thịnh không phải chịu cảnh lao động đày ải. Lại còn bốc thuốc, dạy học như một người vô tội ở Trại đầu Thao Giang truyền về kinh thành. Hỏa Văn Ngọ nổi điên triệu Hữu vũ vệ Thái Bá vào quát hỏi:
– Ngươi có nghe tin gì về Lê Văn Thịnh không?
– Kính bẩm thái phó đại nhân, hạ quan mới nghe nói Lê Văn Thịnh đang ở với người Mường trong một bản cách Trại đầu Thao Giang chục dặm ạ.
– Ta đã giao cho ngươi làm gì. Nếu rừng thiêng nước độc không giết được hắn thì phải thủ tiêu đi. Vậy mà hơn nửa năm rồi hắn vẫn sống khỏe ở đó. Sống như người vô tội không bị giam cầm đày đọa là sao?
Thái Bá sợ quá vội chống chế:
– Dạ, kính bẩm Thái phó đại nhân, tay chân của hạ quan trên đó đã cố gắng nhưng ngục lại Khiêm Tản là người của Thái úy Lý Thường Kiệt. Hắn ra sức bảo vệ Lê Văn Thịnh nên chưa thực hiện được ạ.
– Ta cũng đoán ra ai bảo vệ Lê Văn Thịnh. Nhưng ngươi nên nhớ, kẻ này còn sống thì chúng ta chưa thể ngồi yên hưởng thái bình.
Câu chuyện giữa Thái phó Hỏa Văn Ngọ đang dở chừng thì Đỗ Chùy xin vào. Thấy Thái Bá ở đó, hắn không ngần ngại:
– Kính bẩm Thái phó đại nhân. Có tin tốt hạ quan tức tốc bẩm lên đại nhân.
Hỏa Văn Ngọ bật dậy khỏi ghế:
– Tin gì tốt?
– Dạ, tin tốt là người của hạ quan trên trại đầu đã tìm ra Lê Văn Thịnh. Hắn đang lẩn trốn trong một bản người Mường. Lê Văn Thịnh không bị giam mà còn mới lấy vợ, ngồi dạy học, bốc thuốc chữa bệnh ở đó.
Hỏa Văn Ngọ tím mặt, phảy tay:
– Thế mà tin tốt à. Chuyện đó ta biết trước ngươi rồi.
Đỗ Chùy tiu ngỉu. Hỏa Văn Ngọ hất hàm hỏi:
– Ngài Đản Hớn có nhắn gì ta không?
– Dạ, tiểu nhân không thấy ngài ấy nói gì ạ.
Hỏa Văn Ngọ đi đi lại lại, đến bên cửa sổ nhìn ra vườn như tính toán gì đó. Hai kẻ bề dưới khúm núm đợi lệnh. Lúc sau Hỏa Văn Ngọ quay lại trách cứ thuộc hạ:
– Các người làm việc lơ là cẩu thả quá.
Hai tên sợ sệt:
– Kính bẩm Thái phó đại nhân, chúng hạ quan thật đắc tội. Từ nay xin hết sức cố gắng ạ.
Hỏa Văn Ngọ chỉ vào Thái Bá:
– Ngươi cho người lên Trại đầu Thao Giang. Lê Văn Thịnh ở đâu? Sống thế nào? Hắn đang làm gì? Hắn lấy vợ bao giờ, vợ hắn người ở đâu?… Nghĩa là mọi chuyện về Lê Văn Thịnh…
Dường như Hỏa Văn Ngọ còn đang tính thêm, Thái Bá đã nhanh nhẩu:
– Tuân lệnh Thái phó đại nhân.
Hỏa Vân Ngọ lừ mắt dặn thêm:
– Bảo chúng đóng giả làm nghề gì đó. Không để Khiêm Tản và người của Lý Thường Kiệt biết.
Thái Bá hỏi:
– Kính bẩm Thái phó đại nhân, nếu thuận lợi có xử ngay tên Lê Văn Thịnh không ạ?
Hỏa Văn Ngọ tức giận quát lớn:
– Không xử thì ta sai ngươi lên thăm hắn hay sao. Việc xóa sổ Lê Văn Thịnh ta giao, ngươi quên từ bao giờ.
– Dạ, ạ… Hạ quan ngu đần. Hạ quan ngu đần…
Thái Bá lập cập lui ra, Hỏa Văn Ngọ quay sang nhìn Đỗ Chùy, nét mặt chưa hết cáu:
– Ngươi bố trí cho ta gặp ngài Đản Hớn.