CHƯƠNG 28: ÔNG LANG THU CÚC


 Vụ hóa hổ giết vua đã kỳ lạ. Cái cách đi đầy của trạng nguyên Lê Văn Thịnh còn kỳ lạ hơn. Đô thống nguyên soái Nguyễn Trực Nhẫn rời trại hôm trước, sáng hôm sau Khiêm Tản lật đật đến phòng giam Lê Văn Thịnh. Khiêm Tản quỳ rạp:

– Dạ, bẩm quan Thái sư…

Lê Văn Thịnh vội đỡ Khiêm Tản đứng lên:

– Đừng, đừng như thế, thưa ngài cai trại. Tôi là kẻ mang phận tù đầy. Xin đừng xưng hô như thế. Ở đây tuy là nơi thâm sơn cùng cốc nhưng “tai vách mạch rừng” có cả. Tôi sợ liên lụy đến ngài.

Khiêm Tản thưa:

– Đại nhân Đô thống nguyên soái truyền khẩu lệnh của Quốc lão Thái úy Lý Thường Kiệt sai tiểu nhân phải hết sức chăm sóc quan Thái sư.

Lê Văn Thịnh đã nghe Nguyễn Trực Nhẫn nói, mà nay nghe lại từ miệng viên ngục lại này ông vẫn lặng đi. Quốc lão Thái úy, Hà Ngô Tự, Nguyễn Trực Nhẫn lo lắng che chở cho mọi nhẽ. Lê Văn Thịnh nhắc lại với Khiêm Tản:

– Đã đành là vậy. Nhưng tôi vẫn phải lưu ý ngài cần kín đáo.

Khiêm Tản chân tình:

– Tiểu nhân ở nơi rừng rú xa ngái này, không biết chuyện gì xảy ra ở kinh đô, nhưng tin lời Quốc lão Thái úy, tin những điều Đô thống Nguyễn Trực Nhẫn nói. Thái sư bị hàm oan vì thế nên không thể coi đại nhân là người có tội.

– Cám ơn sự tin tưởng của ngài. Nhưng ở nơi lao tù này, tôi biết làm gì cho qua ngày.

– Thưa quan Thái sư, Đô thống nguyên soái Nguyễn Trực Nhẫn dặn Thái sư là bộ óc thông tuệ nhất Đại Việt ta. Ngài đã từng là thầy dạy vua học và biết nghề bốc thuốc. Vì thế tiểu nhân có ý này xin trình bẩm quan Thái sư. Nếu đại nhân thuận lòng tiểu nhân sẽ cho làm ngay.

Lê Văn Thịnh hỏi:

– Ngài trưởng trại vẫn thưa gửi thế không tiện chút nào. Tôi tin và thực sự cảm động biết ơn sự quan tâm của ngài. Xin cho biết đó là ý gì vậy?

– Ngay sớm mai tiểu nhân đưa quan Thái sư lên một bản người Mường. Quanh vùng này chỉ có một bản đó. Tiểu nhân gắn bó và rất kính trọng vị già bản ở đó. Dân bản Mường cũng giúp đỡ trại quản lý tù nhân. Vì thế tiểu nhân nghĩ đại nhân lên đó sống là hợp nhất.

Lê Văn Thịnh hỏi cắt ngang:

– Bản Mường đó tên là gì. Họ ở đây lâu chưa?

– Thưa quan Thái sư, tên là bản Thu Cúc. Đó là đất tổ quán của tộc Mường. Họ đã ở đây từ lâu lắm rồi. Trước khi có trại tù này mấy trăm năm.

 Bản Thu Cúc, nơi mà viên cai trại Khiêm Tản nhắc tới nằm trấn giữ con đường mòn duy nhất vào đại ngàn. Theo địa lý hành chính, Thu Cúc là một giáp trong hương Tam Thủy, phủ Châu Phong. Nhưng giáp này rất rộng lớn. Thu Cúc ôm trọn cả cánh rừng đại ngàn, phủ lên nhiều dải đá vôi thấp chạy từ tây bắc xuống. Một bên là dòng Thao Giang, mặt kia là núi. Từ xa xưa Thu Cúc đã được coi là lãnh địa của loài thú dữ. Chỉ có hổ báo, chó sói chiếm lĩnh cánh rừng này. Theo Khiêm Tản, từ trại tù lên bản có một lối mòn. Nhưng là đường cụt. Muốn vào rừng, hay ra bến Thao Giang chỉ già làng và vài người đàn ông ở Thu Cúc biết đường. Người lạ vào rừng không bao giờ tìm được lối ra. Hoặc chết đói hoặc bị thú dữ ăn thịt. Bản Thu Cúc gắn bó với trại như một điểm gác. Ngục lại Khiêm Tản hàng tháng vẫn lên Thu Cúc gặp già Bùi Điểu, thăm hỏi dân bản.

  Lê Văn Thịnh rất vui, ông bảo:

– Thật là một ý tốt lành. Nhưng chẳng hay ngài cai trại muốn tôi làm gì ở đó?

– Chẳng giấu gì quan Thái sư, Quốc lão Thái úy lệnh cho tiểu nhân tìm một nơi đất tốt, thoáng đãng dựng nhà rước Thái sư đến ở. Còn làm gì là tùy quan Thái sư thôi ạ. Tiểu nhân nghĩ không gì bằng mời Thái sư lên bản Thu Cúc ở với dân. Ngài có thể dạy chữ cho trẻ con. Bốc thuốc chữa bệnh cho dân. Vừa tránh được con mắt soi mói lại có điều kiện để quan Thái sư giúp đời.

Lê Văn Thịnh cảm động. Ông chắp tay cảm tạ Khiêm Tản. Đúng là trong cái rủi còn cái may. Những kẻ định hại chết ông, đưa lên nơi rừng thiêng nước độc. Chúng tin lao động khổ sai sẽ chẳng mấy mà biến ông thành hồn ma. Nhưng người tốt, người thương ông còn nhiều. Trại đầu Thao Giang này không chứa nổi ông. Ông cũng sẽ thật lơ ngơ với nó. Về với dân bản, dẫu là khó khăn thiếu thốn, nhưng ông có điều kiện để đem chút hiểu biết của mình giúp người dân nghèo. Cuộc sống còn lại của ông sẽ có ích hơn.

Bùi Điểu già làng Thu Cúc nghe cai trại Khiêm Tản giới thiệu ông lang Thịnh là người rất giỏi cái chữ lại biết bốc thuốc chữa bệnh thì vui lắm. Ở nơi heo hút lam sơn chướng khí, người dân còn mê muội. Ốm, bệnh chỉ biết cầu cúng thần linh, mời thầy mo đuổi con ma. Mấy trăm dân bản chỉ vài người biết chữ. Già làng Bùi Điểu với dăm người đàn ông trung tuổi từng đi lính triều đình, học võ vẽ được ít chữ thánh hiền.

Rất nhanh, chưa đầy nửa tháng trời, một căn nhà sàn nhỏ, xinh xắn được người dân bản Thu Cúc dựng lên. Nhà xong, cai trại Khiêm Tản đưa Thái sư Lê Văn Thịnh lên ở đó. Hôm ấy cả bản Thu Cúc làm cỗ vui như mở hội. “Ông lang Thịnh” là cái tên người bản Thu Cúc trìu mến gọi. Ông lang Thịnh người miền xuôi nhưng cả bản thấy ông thật gần gũi.

 Thái sư Lê Văn Thịnh bắt đầu cuộc sống mới. Không ai ở bản Thu Cúc biết thân phận thật của ông. Lê Văn Thịnh tìm hiểu biết tổ tiên người Mường Thu Cúc đã định cư ở đây lâu lắm rồi. Chính người dân cũng không biết bản này có từ bao giờ. Sau này triều đình xây nhà tù, đưa tử tù lên giam ở đây, vùng hẻo lánh này mới có thêm bóng con người. Hai phần ba dân bản Thu Cúc mang họ Bùi. Số còn lại là họ Hà, họ Lê, họ Phan.

 Người dân bản Thu Cúc coi ông lang Thịnh là người của bản Mường. Họ biếu ông áo chàm. Tặng ông gùi, dao đi rừng, cây gậy chống. Dạy ông nấu những món ăn của người Mường… Ông lang Thịnh tìm thấy ở bản Thu Cúc những tấm lòng thật giản dị, nhân ái.

  Sau ít ngày nghỉ lấy sức, ông lang Thịnh nói với Bùi Điểu:

– Thưa già, tôi bình sinh vốn được cha truyền lại cho ít chữ và cái thuật bốc thuốc. Tôi muốn già giúp Thịnh này mở một lớp dạy chữ cho các cháu nhỏ trong bản. Lúc rảnh rỗi đi lang thang tìm xem vùng này có cây thuốc gì hái về giúp dân bản mình chữa bệnh.

Bùi Điểu vui lắm. Già dành hẳn mấy ngày dẫn ông lang Thịnh vào rừng. Hóa ra vùng đất thẳm sâu heo hút có rất nhiều cây thuốc quý. Vượt qua một giẻ núi thấp sang phía bên thì gặp cánh bãi rất rộng lớn. Miệt phù sa dòng sông Thao bao năm bồi đắp, trở thành nơi sinh trưởng nhiều loại cây thân mềm. Ông lang Thịnh ngợp trước cảnh hoang sơ khoáng đạt và trù phú. Rừng chỉ chạy ra hết vỉa đất cứng. Vùng sa bồi này là lãnh địa của các cây họ cỏ. Rất nhiều loại cây làm thuốc mọc xen nhau. Vườn thuốc chạy miên man. Ông lang Thịnh reo lên như con trẻ. Hình như nơi đây chưa có vết chân người. Chưa có bàn tay con người động đến. Cây thuốc già cỗi chết đi gieo lại hạt, mầm cho lớp cây sau. Đời nọ nối đời kia. Thật quý quá. Cây thuốc mọc tự nhiên như thế này có dược tính rất cao. Hội đủ sự thanh sạch của khí trời, sự trong lành của nước và mầu mỡ phù sa lắng đọng.

Lê Văn Thịnh mở phanh ngực áo. Lòng thơ thới lạ. Có lẽ từ ngày lâm vòng lao lý, giây phút này ông mới vui như thế. Làn gió Thao Giang và khung cảnh bát ngát chốn đầu nguồn tiếp cho ông cảm hứng cống hiến, giúp đời. Ông lang dành nửa tháng trời khảo sát, biên chép, phân định các loại cây có thể làm thuốc chữa bệnh. Ông tìm được gần chục loại thuốc quý. Mỗi loại đều có số lượng rất lớn.

Mỗi lần đi hái thuốc, cái gùi đan bằng mây của ông lang Thu Cúc đều chật ních. Khá nặng. Căn nhà của ông lang Thịnh cũng chật chội. Sực nức mùi thơm. Già Bùi Điểu sai cánh thanh niên đến giúp ông lang thái thuốc, phơi thuốc. Ông lang Thịnh hỏi già Bùi Điểu:

– Dân bản mình hay bị bệnh gì?

– Ô nhiều bệnh lắm. Người già đau lưng, đau cái gối nhiều nữa. Đàn bà đẻ bắt con cũng chết nhiều đấy.

Ông lang Thịnh biết đó là do chướng khí. Có thể cả do nguồn nước. Bệnh phù thũng, phong hàn, tắc kinh mạch làm sưng tấy xương khớp, bụng báng và nhiều bệnh khác. Ông lựa một vài cây thuốc phù hợp nhất. Cặm cụi sao tẩm, hoàn tán ra thuốc dưỡng sức, thuốc chữa bệnh thường gặp ở người già. Ông tới từng nhà, hỏi han, biên chép. Thống kê số đàn bà sắp sinh con. Ông lang còn đi xem nguồn nước ăn của bản dẫn từ trên núi về… Một lần trò chuyện với già Bùi Điểu, ông lang Thịnh bảo:

– Già nói dân làng họ nghe. Từ nay ai ốm đau tôi sẽ chữa cho đừng mời thầy mo, thầy cúng nữa.

Già bản mừng quá:

– Đi lính triều đình về tao biết mà. Cúng không đuổi được con ma. Nhưng nhiều người không nghe. Nay có ông lang chữa cho rồi. Nhìn thấy cái thuốc tốt. Nhìn thấy phụ nữ đẻ bắt con không bị chết nữa là họ tin thôi.

– Cái thuốc này của ông trời làm con ma rừng sợ hơn lá bùa của thầy mo. Thầy mo không đuổi được con ma. Chỉ lá thuốc của ông trời đuổi được bệnh tật đi thôi.

Từ ngày ông lang Thịnh lên sống với bản, ông cho uống thuốc khiến người già bớt đau. Đàn bà đẻ bắt con không ai bị chết nữa. Người dân Thu Cúc kính phục ông lắm. Họ gọi là ông lang nhà trời. Những con người bé nhỏ ở tít mù nơi rừng thẳm, chướng khí này đã bao giờ bước chân ra khỏi nương bản của mình. Họ đâu biết trước mặt họ là bậc đại quan, vị tể tướng thông tuệ vào bậc nhất Đại Việt.

Mỗi khi có loại thuốc mới, ông lang Thịnh lại mời dân bản tới nghe ông giảng giải về tác dụng của nó. Phải làm cho cái đầu họ hiểu thì cái bụng họ mới tin. Dân bản kéo tới rất đông. Đàn ông ngồi kín sàn. Đàn bà đứng dưới. Ông lang cầm cây thuốc nói:

– Đây là cây ráy gai. Cây này chữa được chứng ho, đau bụng, bụng báng, tê thấp, nhức xương. Ráy gai uống chung với thuốc khác có thể chữa bệnh đau gan, vàng da, cơ thể suy nhược.

Dân bản ô ô a a. Từ thời cha sinh mẹ đẻ chưa ai nói với họ cặn kẽ như thế. Một ông lão cầm cây thuốc lên săm soi. Nhe hai hàm răng khủng khiểng bảo:

– Ô, cây này tao thấy nhiều mà. Trong rìa suối có nhiều mà.

Lê Văn Thịnh:

– Đúng nó đấy. Cây này ưa chỗ thấp. Đất ẩm nước.

Ông lang nhặt cây khác. Dân bản lại nhướng mắt theo:

 – Cây này tên gọi là điền thất nhân sâm. Sao khô giã nhỏ dễ uống. Nó giúp cầm máu, tiêu thũng, chữa thổ huyết. Rất tốt đối với phụ nữ đẻ bắt con bị máu hôi, ung thũng…

Mỗi lúc càng hào hứng. Mọi người vòng trong vòng ngoài vây quanh ông lang. Phụ nữ trẻ nhỏ đứng dưới sàn, quanh nhà ngóc cổ lên. Ông lang Thịnh khôi hài. Cánh đàn ông phấn khích, cười rộ. Đàn bà tủm tỉm, hai má đỏ rực. Ông lang Thịnh cầm ba cây thuốc:

– Đây là ba cây thuốc rất quý của bản ta. Cây tày máy, cây bá bệnh, cây nấm ngọc cẩu.

Một trung niên hồ hởi:

– Cây này tao cũng thấy rồi. Nó ở gần sông. Nó tốt thế nào ông lang?

 Ông lang Thịnh mắt hấp háy vui vui hỏi lại:

– Ông có mấy con rồi?

– Ô, tao nhiều lắm, bảy đứa rồi.

– Có muốn đẻ thêm con không?

Ông vừa hỏi vỗ vỗ hai tay vào đầu gối:

– Muốn mà. Muốn nữa đấy, nhưng hai đầu gối mỏi lắm, run lắm rồi.

Tiếng cười vỡ tóa. Nhiều ông nhe hàm răng chiếc còn chiếc mất. Ông lang Thịnh mắt hấp háy:

– Đây, ba cây thuốc này làm ông hết mỏi gối. Hết run. Muốn đẻ thêm bao nhiêu thì đẻ. Mật nhân làm cứng gối. Giảm mỏi mệt. Nấm ngọc cẩu giúp bổ thận, an thần, mạnh gân cốt. Tày máy giúp ông tăng lực, ai chán vợ uống ba thuốc này lại muốn yêu vợ ngay.

Trên nhà, dưới sàn nhộn nhạo. Các ông các bà trêu nhau. Ông lang Thịnh chuyển sang cây thuốc khác. Có lẽ chưa bao giờ người dân bản Mường có buổi mở mang đầu óc như thế. Già bản Thu Cúc đứng dậy vái ông lang Thịnh:

– Thật là quý hóa cho dân bản Thu Cúc. Trời đem ông lang giỏi đến cho dân bản. Từ nay không nhà nào mời thầy mo cúng ma nữa. Có ông lang nhà trời giỏi đuổi con ma cho bản ta rồi.

Một ông còn trẻ, phong thái hiểu biết nói:

– Tao nghe quan cai trại Khiêm Tản bảo ông lang Thịnh có nhiều chữ lắm. Ông dạy cái chữ cho dân bản Thu Cúc nữa.

Già Bùi Điểu, tất cả đàn ông đứng cả dậy:

– Xin ông lang dạy chữ cho dân bản.

Ông lang Thịnh thưa:

– Được dân bản cưu mang, lại cho nhà ở, tôi sẽ chữa bệnh và giúp bà con có được cái chữ.

Bản Thu Cúc hôm ấy vui quá. Ông lang Thịnh mời già bản Bùi Điểu ở lại:

– Già ơi. Dân bản ta có tấm lòng quý hóa lắm. Họ cũng ham hiểu biết lắm. Từ nay tôi sẽ dạy chữ cho dân bản. Già giúp tôi chỗ học. Trẻ con các nhà đều đến học. Người lớn ai muốn học cũng được.

Già làng Bùi Điểu:

– Tao sẽ sai cánh thanh niên làm ngay cái nhà nữa cạnh đây để ông lang dạy chữ. Việc gì cần ông lang cứ bảo già này. Hái thuốc cũng cho con trai nó đi cõng gùi cho ông lang.

Từ đó, trong căn nhà nhỏ tiếng trẻ vỡ lòng vang lên. Bản Thu Cúc như thay áo mới, tâm trạng mới. Ông lang Thịnh cũng tìm thấy niềm vui. Đôi lúc ông tưởng mình đang gõ đầu trẻ ở Chi Nhị ngày nào. Ông gắng sức khai hóa, mở mang đầu óc cho dân bản. Người Thu Cúc thêm câu gọi “Thầy giáo Thịnh”. “Ông lang Thịnh”, “Thầy giáo Thịnh” trở nên hết sức thân thiết, kính yêu trong lòng, trong mắt người dân bản Mường.

Đúng như đã hứa, Đô thống nguyên soái Nguyễn Trực Nhẫn trở lại Trại đầu Thao Giang. Viên cai trại Khiêm Tản dẫn ông lên bản Thu Cúc. Tận mắt nhìn thấy ngôi nhà dân bản dựng cho ông lang Thịnh. Nghe tiếng trẻ con học chữ. Nguyễn Trực Nhẫn vui đến phát khóc. Nguyễn Đô nguyên soái nghỉ lại một đêm trong ngôi nhà sàn tràn ngập mùi thuốc của ông lang Thịnh. Hai người hàn huyên bao nhiêu chuyện:

– Thấy hiền huynh làm được những việc lớn cho dân thế này, đệ mừng chảy nước mắt.

Lê Văn Thịnh bảo:

– Có lên đây sống với dân bản Thu Cúc đệ mới hiểu được tấm lòng của dân lành. Chốn quan trường giả dối và phù phiếm quá. Đệ tiếc mất mấy chục năm chìm đắm trong đó.

Nguyễn Trực Nhẫn bảo:

– Lời huynh dặn lần trước đệ và huynh Hà Ngô Tự bẩm báo lên Quốc lão Thái úy. Bọn gian Tống đã bị giám sát chặt. Duy có việc cho người tìm kiếm gia đình em Hoàng Mai thì chưa kết quả.

– Vậy nàng Doãn thì sao?

– Dạo huynh bị bắt, đệ có nhờ Điện tiền chỉ huy sứ Vũ Uẩn đưa phu nhân đi lánh nạn. Mấy tháng nay, huynh ấy theo Quốc lão đi tuần duyên, đệ chưa gặp được. Nhưng chắc việc tìm phu nhân không khó.

– Mọi sự đệ nhờ cả vào các huynh. Chắc một ngày không xa sẽ có tin vui.

Đô thống nguyên soái Nguyễn Trực Nhẫn chia tay Lê Văn Thịnh, cảm giác nhẹ lòng hơn lần trước nhiều. Lê Văn Thịnh tin rằng những người bạn chí cốt sẽ tìm được nàng Doãn và gia đình em Mai. Niềm tin ấy khiến ông thấy khỏe ra.