CHƯƠNG 22: CẢI CÁCH


 Thái sư Lê Văn Thịnh được vua Lý Nhân Tông giao trông coi việc nội trị và cải cách kinh tế. Đất nước bước vào giai đoạn ổn định. Nền kinh tế phát triển bộc lộ những bất cập chính sách do vua ban trước đó. Giống chàng trai trưởng thành, vạm vỡ trong chiếc áo chật, ngắn ngủn của tuổi nhỏ.

Đường lối cai trị dưới triều Lý Nhân Tông dựa trên tư tưởng “Tam giáo đồng nguyên”. Việc chấn hưng giáo dục, văn hóa, tôn giáo tiến hành mạnh mẽ. Tuy nhiên chính sách, lề luật cai trị phần lớn vẫn còn rất tùy hứng, chủ yếu theo tập tục, thói quen của các triều đại trước. Vua sai Thái sư Lê Văn Thịnh chắp bút cải cách kinh tế, chấn chỉnh hoạt động tâm linh, tín ngưỡng.

 Việc đầu tiên, Lê Văn Thịnh bẩm tấu vua Lý Nhân Tông xin tiếp tục mở khoa thi kén chọn người tài. Cũng như vị Thái sư tiền nhiệm Lý Đạo Thành, Thái sư, trạng nguyên Lê Văn Thịnh được giao làm Chánh chủ khảo kỳ thi thứ hai này. Tháng tám, niên hiệu Quảng Hựu năm thứ hai, Bính Dần (1086) nhà Lý mở khoa thi “Chọn người có tài Văn học”. Đỗ đầu kỳ thi này là Mạc Hiển Tích. Thủ khoa Mạc Hiển Tích sinh năm 1060, người thôn Lũng Động, hương Chí Linh, phủ Hải Dương. kém Lê Văn Thịnh mười tuổi. Mạc Hiển Tích được bổ làm Hàn lâm viện học sĩ. Các Nho sinh đỗ cao cũng được bổ vào các bộ, khu, sở.

Mậu Thìn (1088), Quảng Hựu năm thứ tư, vua Lý Nhân Tông phong nhà sư Khô Đầu làm Quốc sư. Phật giáo trở thành Quốc đạo. Điều này tác động sâu rộng tới tình cảm và tín ngưỡng của chúng dân và chính sách quốc gia. Hầu như thôn, giáp nào cũng có chùa. Đứng đầu việc suy tôn Phật giáo là Hoàng Thái phi Ỷ Lan và nhà vua đương triều Lý Nhân Tông. Song “Nhân sinh quan” và “Vũ trụ quan” của đạo Phật không phù hợp với việc đề ra chính sách quản lý xã hội. Quan niệm các sự vật, hiện tượng trong vũ trụ chuyển động, biến đổi đều bởi quy luật nhân duyên, nhân quả. Tất cả chỉ là ảo ảnh vô thường. Dạy chúng sinh lòng từ bi hỉ xả, cam chịu… đều thuộc phạm trù đạo đức, tâm linh.

Vai trò của Đạo giáo và ảnh hưởng của nó còn khá mờ nhạt trong xã hội.

Giới Nho học đứng đầu là trạng nguyên khai khoa, Thái sư Lê Văn Thịnh. Quan niệm triết học và nhân sinh của Nho giáo cung cấp cho thể chế cai trị một công cụ quản lý xã hội và xây dựng chính sách khá hữu hiệu. Triều đại Lý Nhân Tông đang cần đến các chính sách phù hợp để phát triển.

Để hiểu rõ cuộc sống của dân chúng và có căn cứ ban hành chính sách, Lê Văn Thịnh dành nhiều thời gian về các vùng thôn quê, miền sơn cước xa xôi. Trước tiên ông tới các hương, giáp thuộc phủ Thiên Đức, lộ Hoàng Giang, lộ Châu Phong… Ở đâu Thái sư cũng nhận thấy dân chúng còn nhiều người đói khổ. Đất đai phân chia rất thiếu hợp lý. Người nông dân không có ruộng phải làm phu cày, cấy thuê cho điền chủ. Cày thuê cả cho nhà chùa. Miếng ăn hàng ngày đều phụ thuộc vào công sá mà chủ đất, nhà chùa trả cho. Giới phu cầy, làm thuê đông đảo, tất yếu xuất hiện tầng lớp chủ nô. Của cải, hoa lợi, việc làm nằm trong tay các điền chủ, chủ nô và nhà chùa rất lớn. Dân nghèo bị mấy tầng bóc lột. Nguyên nhân cái nghèo, cái khổ, cái bất công là ở đây.

Tới phủ Thiên Đức, Lê Văn Thịnh còn trăn trở hơn khi thấy chùa chiền mọc lên chóng mặt. Hầu như thôn, giáp nào cũng xây chùa. Chùa vượt nhu cầu tín ngưỡng của người dân. Một thôn, trang chỉ vài trăm người cũng công đóng, gạo góp xây chùa bề thế. Mỗi chùa lại chiếm nhiều đất canh tác. Đều thuộc loại bờ xôi ruộng mật. Chùa nào cũng có kho đụn. Của cải ê hề. Nhân công hầu hạ, phục dịch quét dọn trong mỗi chùa quá đông. Lê Văn Thịnh khó xử nhất khi biết hàng trăm ngôi chùa lớn ở phủ Thiên Đức đều do Hoàng Thái phi Ỷ Lan lấy quốc khố ra xây dựng. Sau những chuyến vi hành về thôn, trang Lê Văn Thịnh cải dạng xuống các chợ ở kinh thành Thăng Long, phố thị Luy Lâu… Dẫu hình thức làm ăn có khác nhưng về bản chất bóc lột cũng giống nhau. Kinh thành Thăng Long vào thời điểm này đã hình thành lớp người giầu. Giới thương nhân lớn cấu kết định giá thị trường. Phân công mặt hàng, lượng hàng mua bán. Chèn ép những người buôn bán nhỏ và trả công cho người làm thuê rất bèo bọt.

To vốn, buôn lớn là thương nhân gốc Hoa. Từ khi nhà Lý xây dựng quốc gia ổn định, phát triển người nước Tống kéo sang làm ăn ngày một nhiều. Đông nhất là người Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến… Họ sống tập trung ở phường Giang Khẩu. Hai bên bờ con sông nhánh chảy từ hồ Lục Thủy ra cửa Chương Dương. Để có chỗ sinh hoạt cộng đồng, gắn kết nhau người Hoa thành lập Hội buôn và xây khu Hội quán bề thế đặt tên “Hội quán Quảng Đông”. Từ kiểu dáng tới trang trí không khác gì các hội quán ở Trung Quốc. Dần dà, vùng này trở thành lãnh địa riêng của người Hoa. Hội quán là nơi sinh hoạt, hội họp của người Hoa xa quê. Nó cũng trở thành nơi điều hành hoạt động của giới thương gia người Hoa trong khắp Đại Việt. Vàng, bạc là bản mệnh của hàng hóa được định đoạt từ đây.

Thái sư Lê Văn Thịnh nhìn ra một hiện thực là từ bao năm nay, giới thương gia, điền chủ, chủ nô, chúa đất… hàng tháng nộp cho công khố triều đình khoản thuế rất ít ỏi. Không xứng với hoa lợi và tiền lãi họ thu về. Lý do họ giầu lên quá nhanh là đây. Lý do dân lao động cứ mãi nghèo cũng là ở đây. Riêng các chùa chiền còn được miễn nộp thuế. Đó là điều phải chấn chỉnh. Đã hoạt động, sản xuất, buôn bán thì phải nộp thuế tương ứng cho triều đình. Thái sư Lê Văn Thịnh bắt tay soạn thảo 9 điều chấn chỉnh, cải cách: 

Đối với đất đai, công thổ:

1. Kiểm kê diện tích đất đai các điền chủ, chúa đất và nhà chùa đang nắm giữ. Phân loại đất thành ba hạng: Đất mầu mỡ; đất hoàn bồi và đất cằn cỗi.

2. Thu lại một phần đất canh tác của các điền chủ, lãnh chúa, nhà chùa chiếm giữ quá lớn sung làm ruộng công (công điền).

3. Thu lại đất của các địa phương đang bỏ hoang hoặc sử dụng không đúng, sung làm đất công (công thổ).

4. Định mức thuế phải thu cho hai loại đất mầu mỡ và hoàn bồi sung vào ngân khố. Có chính sách miễn thuế khuyến khích người dân canh tác cải tạo đất cằn cỗi.

 Đối với giới thương gia và ngành nghề thủ công:

5. Phân định giới thương gia thành các hạng: cự phú, tiểu thương và buôn bán nhỏ. Hàng tháng kiểm định số hàng hóa giao thương trên thị trường.

6. Định mức thuế cho từng hạng buôn, từng loại mặt hàng và ngành nghề.

 Đối với các công trình tín ngưỡng và tâm linh:

7. Chia chùa ra ba hạng: Đại danh lam, trung danh lam và tiểu danh lam. Từ đó quy định số mẫu ruộng từng hạng chùa được sở hữu. Số người phục dịch trong mỗi chùa cũng quy định theo các hạng trên. Cho quan văn làm chức “Đề cử” quản lý điền nô, tài sản, ruộng đất, kho đụn của nhà chùa.

8. Quy định hình thức và tên gọi đối với các công trình tâm linh. Thế nào là: đình, đền, điện, miếu, nghè… Thế nào là từ đường dòng họ. Cung cách thờ phụng linh thần, thánh đế, thành hoàng ở thôn, trang.

9. Đặt ra chế độ rèn binh trong số đinh điền trẻ tuổi, tạo cho họ điều kiện sẵn sàng tham gia chống giặc khi đất nước động binh.

 Lý Nhân Tông sau khi xen bản tấu của Thái sư Lê Văn Thịnh đã rất khen ngợi. Vua lập tức ban chiếu áp dụng. Tuy mới chỉ là các quy định ban đầu đối với các lĩnh vực thiết yếu nhưng tác động của chính sách mới là rất tích cực. Quan lại các cấp bên dưới có chỗ dựa để thực thi. Dân nghèo được hưởng lợi, kích thích sản xuất. Người nông dân đỡ khổ. Chính sách cũng tạo ra sự công bằng hơn trong xã hội. Tiền thuế thu về cho ngân khố quốc gia tăng theo.

Chính sách cải cách của vua Lý Nhân Tông được đánh giá là bước đi mạnh bạo và mang tính rộng lớn. Kinh đô Thăng Long cũng nhờ đó mà hoạt động giao thương nhộn nhịp hơn. Người từ thôn ổ, các làng nghề kéo về Kẻ Chợ lập nghiệp. Vùng đất phía bắc hồ Lục Thủy trở thành nơi sản xuất, buôn bán vô cùng sầm uất. Tên mặt hàng, tên làng nghề trở thành tên phố. Thăng Long tạo cho mình bộ mặt phồn thịnh nhanh chóng. Đất nước kể từ thời tiên đế Lý Thái Tông đến thời Lý Nhân Tông, đạt tới mức tăng trưởng cao nhất vương triều Lý. Người dân ca ngợi là “Bách niên thịnh thế”.

Sức hút của Thăng Long kéo theo sự có mặt của thương nhân người Hoa, người Nhật, người Miên, Chămpa, Chân Lạp…. Đông nhất là người Hoa. Buôn có bạn, bán có phường. Phường hội người Hoa trở thành một thế lực rất mạnh. Trưởng Hội buôn người Hoa là Đản Hớn.

Đản Hớn, cháu bốn đời của một nhà buôn gốc Hoa quê Quảng Đông. Cụ kỵ Đản Hớn cư ngụ ở Thăng Long từ thời vua Lý Thái Tông. Giầu có vào hạng phú gia địch quốc. Cái gen, cái duyên buôn bán truyền trong máu. Khi Đản Hớn lớn lên, tài sản ông cha để lại đủ để Hớn khống chế các nhà buôn khác. Ngoài ba mươi tuổi Đản Hớn đã trở thành Hội trưởng Hội buôn người Hoa ở Thăng Long. Hớn tung tiền bạc ra xây dựng mối quan hệ tốt với nhiều bậc đại quan trong cung đình Lý Nhân Tông. Tiếp sau chính sách cải cách kinh tế, năm Kỷ Tỵ (1089) vua Lý Nhân Tông ban chiếu quy định hệ thống quan lại mới (29).

Việc ban hành chính sách quản lý kinh tế của vua Lý Nhân Tông làm lợi cho đất nước và người nghèo nhưng lại bị lớp người giầu có phản đối. Đó cũng điều dễ hiểu. Của cải một quốc gia cũng như cái bánh. Một phần nằm ở ngân khố triều đình quản lý. Phần lớn còn lại nằm trong dân chúng. Mà dân chúng chia ra người giầu và người nghèo.

Giới người giầu gồm những chúa đất, chủ nô ở nông thôn, thương gia ở thành thị. Trong cung đình các quan lại có phẩm trật lớn, tăng lữ trụ trì các đại danh lam cũng thuộc loại người giầu có. Tám trong chín điều cải cách mà Thái sư Lê Văn Thịnh chắp bút ít nhiều động chạm đến quyền lợi của giới người giầu. Các luồng tư tưởng trái ngược nảy sinh. Triều đình Lý Nhân Tông phải đối mặt với sự chống đối nhau ngày một gay gắt giữa phe cải cách và phe bảo thủ giảm quyền lợị.

Ủng hộ phe cải cách là các bậc túc Nho, các quan lại tiết tháo, mẫn cán. Đứng đầu là Thái úy Lý Thường Kiệt, Thái sư Lê Văn Thịnh, Tả tham tri chính sự Hà Ngô Tự, Đô thống nguyên soái Nguyễn Trực Nhẫn và Điện tiền chỉ huy sư Vũ Uẩn. Phe chống đối, đứng đầu là Thái phó Hoả Văn Ngọ. Hữu vũ vệ Thái Bá, Viên ngoại lang Đỗ Chùy. Kín đáo hơn là Quốc sư Khô Đầu.

Những người bị giảm quyền lợi vì cải cách kinh tế không dám phê phán vua Lý Nhân Tông. Họ chĩa mũi dùi vào Thái sư Lê Văn Thịnh. Ông là người chắp bút và thực thi chính sách. Rất nhiều lời đồn thổi, khích bác thậm chí vu khống nhằm vào ông. Thái sư Lê Văn Thịnh cũng lường tính trước sẽ có những lời bỉ thử, thị phi như thế. Ông không giải thích, mà cũng không tài nào giải thích được hết. Nhưng ông lại rất buồn lòng khi trong nội triều loan tin quan Thái sư cậy mình tài giỏi, thâu tóm hết quyền lực vào tay. Thái sư đề ra các chính sách

nhằm giảm ảnh hưởng của đạo Phật để đưa đạo Nho lên vị trí độc tôn. Gần nữa ông nghe chuyện rằng Quốc sư Khô Đầu được vua Lý Nhân Tông trao cờ tiết, cùng Thái sư Lê Văn Thịnh bàn việc chính sự. Lê Văn Thịnh đang thất sủng phải chia bớt quyền lực… Thực chất việc vua Lý Nhân Tông ban phong danh hiệu Quốc sư cho nhà sư Khô Đầu để khẳng định triều đình coi Phật giáo là quốc đạo. Nguyện vọng này cũng bắt nguồn từ Hoàng Thái phi Ỷ Lan. Nhà sư Khô Đầu không tham gia điều hành chính sự. Và cũng chưa bao giờ Lê Văn Thịnh tỏ ý bài bác đạo Phật.

Thái sư Lê Văn Thịnh hiểu một khi sắp xếp lại công việc quản lý đất nước, tăng thuế đánh vào các điền chủ, chúa đất, chủ nô và thương gia giầu có sẽ tác động trực tiếp tới bổng lộc của giới đại quan trong triều. Lê Văn Thịnh luôn nhắc mình phải chú ý điều đó. Nhưng dựng chuyện về mối quan hệ giữa Phật giáo với Nho giáo là điều Lê Văn Thịnh chưa lường tới. Giọng điệu nghe ra không phải của giới điền chủ, chúa đất hay chủ nô.

Để giúp bạn hiểu rõ hơn về nội dung, sau đây là phần chú thích của chương 22. Mời bạn nghe cùng BÚC CÁC:
 

(29). Bộ máy quan lại thời Lý Nhân Tông quy định: Đứng đầu đầu triều thần là các Thái sư, Thái phó, Thái bảo và Thiếu sư. Đặt chức Thiếu úy coi việc võ. “Dưới những bậc ấy là Thượng thư, tả hữu Tham tri, tả hữu Gián nghị đại phu, trung thư Thị lang, hữu Thị lang thuộc văn ban. Võ ban là Đô thống đại nguyên súy, Đô thống nguyên súy, Tổng quản khu mật sứ, khu mật tả hữu sứ, kim ngô Thượng tướng, Đại tướng, Đô tướng, Tướng quân các vệ (chỉ huy các vệ quân gồm Kiêu vệ, Uy vệ và Định Thắng vệ. Ở các châu quận, văn thì có Tri phủ, Tri châu; võ thì có chức Trấn thủ.