Chiêu thảo sứ Quách Quỳ biết không thể khuất phục nổi Đại Việt. Tướng sĩ nhà Tống đã mất hết nhuệ khí. Càng ở lâu càng tổn hao binh lính. Con đường duy nhất là rút quân. Nhưng rút như thế nào thì Quách Quỳ chưa nghĩ ra. Để củng cố tinh thần, hắn ra lệnh đem hết máy bắn đá ra trấn giữ các bến sông. Tăng cường phòng bị nơi đóng quân. Song sự hoảng sợ cứ rõ lên từng ngày. Lính Tống xa nhà lâu, bại trận liên miên tâm trạng u uất. Trong trại binh lính lén lút đặt bát hương xì xụp cúng vái. Mùi hương, lời khấn cầu thần linh cho được sống sót trở về khiến nơi đóng quân của giặc Tống hàng đêm như bãi tha ma. Đám lính trẻ truyền tai nhau thấy thần sông, thần núi Đại Việt lừng lững hiện lên trên dãy Phượng Hoàng, trong núi Tiên. Vào những đêm mưa, sấm chớp rạch ngang dọc bầu trời là chúng không dám ngủ, ngồi cụm lại với nhau đợi sáng.
Cuối tháng hai hàng năm là mùa mưa phùn rất khó chịu ở Đại Việt. Dầm dề lê thê. Nồm ẩm khiến tâm trạng não ra. Quần áo phơi cả chục ngày không khô, sực nức mùi rêu mốc. Vào đúng lúc đó trong đền thờ thánh Tam Giang xuất hiện chuyện kinh dị.
Từ ngày mới kéo quân sang, lính Tống đã nghe kể về ngôi đền cổ ấy. Thánh Tam Giang là hiện thân của hai vị tướng tài Trương Hống, Trương Hát thời Triệu Việt Vương đánh tan giặc nhà Thương, Trung Quốc. Sau ngày hai tướng về trời, có tới 400 làng ven những con sông lớn tôn các ông làm linh thần. Gặp năm mưa gió không thuận, hay trước mỗi chuyến ra khơi đánh cá, dân chài dâng lễ xin thánh Tam Giang phù hộ đều được linh ứng cả. Lúc đầu còn ít, càng về sau càng nhiều lính Tống lén lút tới đền cầu xin linh thần sông, núi nước Nam tha mạng.
Không hiểu do thần hồn nát thần tính hay mệt mỏi, lo sợ quá mà vào một đêm mưa lớn, lính Tống nháo nhác rúm lại. Chúng truyền tai nhau về các vị linh thần hiện ra trong ánh chớp xanh lè. thánh Tam Giang lừng lững giữa mây đen cuồn cuộn ngay trên đầu chúng. Hình hài to lớn. Tiếng ngài sang sảng dội xuống doanh trại giặc:
Nước Nam là của vua Nam ở
Sách trời đã ghi rõ rành rành
Cớ sao dám đến đây xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời!
Vang vọng. Ào ã. Cuộn sôi. Tiếng sấm. Ánh chớp xé toang màn đêm. Những đụn lửa dội xuống… giặc Tống kinh hồn táng đởm. Chúng bịt chặt tai rúc vào nhau run cầm cập, khóc rống lên. Tên cứng vía nhất bảo nhìn thấy mắt thần đỏ lòm như hai đụn lửa. Sáng ra, đứa nào cũng bơ phờ. Kinh hãi hơn lời thần không chỉ cảnh báo trong đêm. Khắp quân doanh trắng phớ tờ rơi. Lời thần còn hiện thành chữ. Lính Tống mỗi đứa nhặt một tờ. Chúng đặt từng xếp cạnh bát hương khấn xin thần tha mạng. Lời cảnh báo của thần sông, thần núi nước Nam không còn là chuyện đồn thổi nữa. Cái chết đang đợi chúng nếu còn ở lại nước này.
Quách Quỳ ra lệnh lùng bắt những kẻ gieo rắc chuyện mê tín. Nhưng không bắt được ai. Chỉ huy khám lều trại, thu tờ rơi đốt đi. Sau đêm đó sự biến trong quân Tống đã như nước lũ phá bờ. Từng nhóm vài chục tên rồi hàng trăm tên rủ nhau trốn mỗi đêm. Từng tốp, từng tốp kéo nhau chạy ngược về phía bắc. Quách Quỳ lập tức triệu các tướng, ra nghiêm lệnh tướng nào để lính trốn thì chém tướng ấy. Lệnh của Quách Quỳ vô tác dụng. Trại nào cũng có lính đảo ngũ. Giặc Tống đinh ninh: “Thần linh đã cảnh cáo. Ở lại thì mất đầu. Trốn đi may còn sống về được với cha mẹ, vợ con”.
Đúng như Thái úy Lý Thường Kiệt và Binh bộ Thị lang Lê Văn Thịnh dự đoán. Chỉ sau vài đêm mưa cho người làm giả hình ảnh thánh Tam Giang. Đốt lửa lớn trong triền núi Phượng Hoàng và núi Tiên. Dùng loa có âm vọng lớn, vang xa đọc bài thơ “THẦN”. Quân Tống đã ùn ùn phá trại. Sự biến trong quân Quách Quỳ cho Thái úy Lý Thường Kiệt biết đã đến lúc hạ màn cuộc kháng chiến. Quốc lão Thái úy Lý Thường Kiệt sai Bộ binh Thị lang Lê Văn Thịnh:
– Quách Quỳ, Triệu Tiết rối trí lắm rồi. Lúc này nên mở cho chúng con đường rút trong danh dự. Thị lang hãy soạn thư “giảng hòa” cho người đưa sang doanh Quách Quỳ.
Lê Văn Thịnh ngỡ ngàng:
– Bẩm, Thái úy đại nhân thật sáng suốt và nhân ái. Nhưng… sao lại là thư giảng hòa ạ?
Lý Thường Kiệt nhìn Binh bộ thị lang thật trìu mến. Cái kế đánh vào đầu óc tối tăm mê muội của giặc Tống là mẹo của Lê Văn Thịnh. Chỉ vài đêm, không mất một mũi tên, một người lính, mấy vạn quân giặc gần như đã trở thành một đám hình nhân. Nhưng Lê Văn Thịnh chưa hiểu hết tầm nhìn xa của vị thống tướng dày dạn trận mạc. Lý Thường Kiệt nhẹ nhàng nói:
– Đại Tống là nước lớn, hùng mạnh, quân đông. Thua một trận không làm chúng yếu đi. Sự thất trận lần này cũng giống như lần ta phá Ung Châu sẽ để lại trong lòng Tông Thần Tông và Vương An Thạch nỗi tủi hổ, căm hận. Không chóng thì chầy, khi trong nước chúng ổn định, nhà Tống sẽ lại đem quân đánh ta để báo thù. Cứ thù hận mãi, chiến tranh mãi thì dân khổ, nước nghèo. Vì thế, ta muốn làm sao để chúng từ bỏ dã tâm xâm lược Đại Việt. Tặng cho vua quan nhà Tống món quà “giảng hòa”, có nghĩa quân Tống không bại trận. Để chúng rút trong danh dự. “Giảng hòa” cũng mở cho Quách Quỳ, Triệu Tiết một con đường sống. Dù biết mười mươi là bại trận, nhưng thư “giảng hòa” giúp Tống Thần Tông và Vương An Thạch có cái gậy, có lý do không quá xấu hổ với chư hầu. Lòng hận thù của hai kẻ tham lam đó cũng nguội bớt đi. Ta không cần vênh vang vỗ ngực mình là người chiến thắng làm gì. Đại Việt càng sáng lên lòng nhân từ, vẫn tỏ ra tôn trọng nước lớn. Hiểm nguy của đất nước được cởi bỏ, đó mới là chiến thắng lớn nhất, bền lâu nhất.
Lê Văn Thịnh bái phục:
– Tiểu tướng đúng là còn quá non nớt trước tầm nghĩ của Quốc lão Thái úy. Được lời “giảng hòa” này, Quách Quỳ, Triệu Tiết sẽ vô cùng biết ơn quốc lão.
Lý Thường Kiệt dặn thêm:
– Tuy nhiên ta lưu ý quan Thị lang, tuy là thư “giảng hòa” nhưng lời lẽ phải kiên cường. Mở đường hiếu sinh nhưng phải khiến chúng phải biết sợ. Ngầm gửi tới Tống Thần Tông và Vương An Thạch lời cảnh báo, chớ có dại dột mà đụng đến Đại Việt ta nữa.
– Tiểu tướng tuân lệnh Quốc lão đại nhân. Còn nếu Quách Quỳ cầu xin gì, ta có thể giúp đỡ để làm sáng thêm lòng khoan dung đại lượng của người chiến thắng.
Lý Thường Kiệt gật đầu:
– Nên như thế. Nên như thế. Thị lang viết rõ Quách Quỳ rút quân, ta sẽ không truy đuổi. Thiếu lương ăn, thuốc men ta cấp. Thiếu tầu bè ta cho.
Lê Văn Thịnh chưa hết hứng khởi:
– Bẩm Quốc lão Thái úy đại nhân, chiến thắng và cách hành xử này sẽ mãi mãi làm tan mộng nhòm ngó Đại Việt của Tống triều.
Lý Thường Kiệt cười thật vui:
– Đó là công sức chung của quân sĩ. Ta cũng có lời khen ngợi diệu kế của quan Thị lang.
Nhận thư của Lý Thường Kiệt, Chiêu thảo sứ Quách Quỳ quá đỗi vui mừng. Hắn lập tức gọi phó tướng, tùy tướng đến soái doanh. Lệnh rút quân nhanh chóng được ban ra. Quách Quỳ cử Diên Chủng cấp tốc ngày đêm đem bản tấu về Biện Kinh trình lên Tống Thần Tông. Hắn gửi kèm thư đề nghị giảng hòa của Lý Thường Kiệt. Quách Quỳ hy vọng lá thư đó giúp hắn nhẹ bớt tội. Giảng hòa chứ không phải bị Đại Việt đánh bại. Cố bám vào cái lý đó, nhưng trong lòng Quách Quỳ biết sự khôn ngoan của Lý Thường Kiệt. Dẫu gì Quách Quỳ cũng ngầm mang ơn viên chủ soái họ Lý.
Cuộc kháng chiến chống giặc Tống xâm lược mùa xuân năm Đinh Tỵ (1077) của quân dân nhà Lý hoàn toàn đúng với ý định và kế sách của Thái úy Lý Thường Kiệt. Nhà Tống mất hơn 70 ngàn binh lính. 10 ngàn dân phu. Tiêu tốn 5,2 triệu lạng vàng, bạc. Sử gia nhà Tống sau này cay đắng thốt lên:“Thật may cho Quách Quỳ và Vương An Thạch. Lý Thường Kiệt đã mở đường cho giảng hòa. Nếu không binh lính thiệt mạng sẽ là bao nhiêu. Và nhà Tống còn dám vênh vang với các chư hầu khác nữa không”.
Thất bại thảm hại trước Đại Việt khiến triều đình Bắc Tống càng lún sâu vào những rắc rối nội bộ. Tống Thần Tông lồng lộn tức giận đòi đem hai viên Chiêu thảo sứ Quách Quỳ, Phó chiêu thảo sứ Triệu Tiết cùng chín viên đại tướng ra chém đầu. Ngô Sung nhân dịp này khới lại chiến dịch hạch tội Vương An Thạch:
– Tâu hoàng thượng, kết quả này thần đã cảnh báo từ trước khi Vương Tể tướng quyết định đem quân sang đánh Giao Chỉ.
Vương An Thạch bao biện:
– Đây là ý chí của thánh thượng. Dù bị thất bại nhưng cũng là lẽ thường tình trong chiến tranh. Sẽ có những lần xuất binh lớn hơn để báo thù. Lý Thường Kiệt thắng trận này là do may mắn. Chúng đang cao ngạo đó là cửa tử dẫn tới cái chết.
Tống Thần Tông cay đắng hỏi:
– Quách Quỳ hiện ở đâu?
Tất cả lặng thinh. Bại tướng Quách Quỳ sau trận Như Nguyệt không dám về Biện Kinh. Hắn tập hợp mấy ngàn quân chiếm giữ vùng đất châu Quảng Nguyên của Đại Việt. Lấy rừng núi hiểm trở náu thân. Chỉ có Triệu Tiết về tạ tội với Tống Thân Tông. Nghe vua Tống hỏi, Triệu Tiết đổ hết trách nhiệm lên đầu Quách Quỳ. Tiết giập đầu dưới bệ rồng:
– Muôn tâu thánh thượng, kẻ bại trận đáng tội chết mong bệ hạ khai ân.
– Ngươi hãy nói rõ cơ sự làm sao mà mấy chục vạn tinh binh đại Tống lại thua nhục nhã ê chề đến vậy trước một xứ bé nhỏ như Giao Chỉ.
– Muôn tâu thánh thượng, hạ thần được Chiêu thảo sứ giao cầm một đạo binh đóng trại xa phòng tuyến Như Nguyệt làm thế ỉ giốc. Thực tình không muốn chối bỏ phận sự của mình, nhưng mọi ý kiến của hạ thần đều bị Chiêu thảo sứ Quách Quỳ bỏ ngoài tai. Hầu như tất cả các trận giao chiến hạ thần không được tham gia.
Ngô Sung đỡ tội cho Triệu Tiết:
– Trong “Phạt Giao Chỉ chiếu” hoàng thượng cử Tiến sĩ Triệu Tiết làm Chiêu thảo sứ. Nhưng Tể tướng Vương An Thạch lại cất nhắc Quách Quỳ lên chức ấy, đẩy Triệu Tiết xuống làm Phó. Cách chọn tướng của Vương tể tướng như thế thì sự bại trận là dễ hiểu thôi ạ.
Lần này thất bại quá nặng trước Đại Việt, Vương An Thạch mất uy tín lớn. Lợi dụng tâm trạng Tống Thần Tông, Ngô Sung, Hà Tặng cùng các đại thần phe bảo thủ thay nhau vạch tội Vương An Thạch. Tống Thần Tông lại lâm vào cảnh không biết xử trí ra sao. Vua Tống cay đắng hỏi Vương An Thạch:
– Tướng quốc có biết hiện Quách Quỳ ẩn náu ở đâu không? Hay bị Lý Thường Kiệt bắt sống rồi.
Hùng Bản đại thần Kinh lược sứ cai quản phủ Quảng Tây thay Thẩm Khởi là người của phe Vương An Thạch. Trước tình cảnh này ông ta cũng lo. Trước hôm về Biện Kinh dự triều, Hùng Bản được thuộc cấp báo tin, Chiêu thảo sứ đại tướng Quách Quỳ đang náu thân tại châu Quảng Nguyên. Viên kinh lược sứ này đã ngầm báo tin cho Vương An Thạch. Thạch tâu:
– Muôn tâu thánh thượng, Quách Quỳ sợ tội nên chưa dám về kinh. Sau trận ấy, Lý Thường Kiệt cấp xe, ngựa cho Quách Quỳ và quân sĩ về nước nên không có chuyện bị bắt.
Nghe vậy Tống Thần Tông càng sôi máu:
– Một nước hùng cường như đại Tống mà thua đến nỗi hết đường chạy, phải nhờ vào lòng tốt của Giao Chỉ mới về nổi thì mấy lần nhục nhã. Hãy đem cái đầu nó về đây cho ta.
Quần thần nhà Tống bãi triều trong tâm trạng vô cùng nặng nề. Vương An Thạch tự thấy không thể ngồi lại trên cái ghế Tể tướng, đã đệ đơn xin lui về an trí. Vậy là chưa đầy năm năm, hai lần Vương An Thạch bị biếm chức. Triệu Tiết do tội liên đới để thua trận, giáng xuống Trực Long Đồ các, làm Tri phủ Quế Châu. Mấy năm sau Triệu Tiết được bổ lại hàm Thiên Chương các đãi chế, nhận chức Tam tư sứ như trước đây.
Vương An Thạch đi rồi, Tống Thần Tông tự tay điều hành công việc cải cách kinh tế. Vua Tống vẫn áp dụng chính sách do Vương thực hiện dở dang. Song đám quan lại nhà Tống quá trì nặng bảo thủ, cải cách không đem lại kết quả như mong muốn. Xã hội như rơi vào cảnh nửa dơi nửa chuột. Mâu thuẫn nội bộ lại theo đó bùng phát. Nước Liêu và nhà Tây Hạ lợi dụng tình trạng đó lại cất quân lấn xuống Trung Nguyên. Tống Thần Tông vất vả chống đỡ. Cùng lúc này ở phía bắc vừa xuất hiện một bộ tộc non trẻ. Bộ tộc Nữ Chân. Ít năm sau Nữ Chân lập nên nhà Kim đầy tham vọng.
…
Chiêu thảo sứ bại tướng Quách Quỳ không dám trở về Biện Kinh. Quách Quỳ biết Kinh lược sứ Hùng Bản ủng hộ Tể tướng Vương An Thạch nên tìm đến ra mắt:
– Kính bẩm đại nhân, kẻ bại tướng này thật lấy làm hổ thẹn. Xin đại nhân ban cho một chỗ dung thân.
Thương cảnh ngộ Quách Quỳ, Hùng Bản nói:
– Đúng là tình cảnh hiện nay của tướng quân chưa thể về Biện Kinh. Ta vừa dự thiết triều. Hoàng thượng đang giận lắm.
– Thưa đại nhân vậy phó Chiêu thảo sư Triệu Tiết ra sao ạ?
– Triệu Tiết bị giáng xuống Trực Long Đồ các về làm Tri phủ Quế Châu. Nhưng ta nghe ra giữa hai ông không được thuận lắm thì phải. Triệu Tiết đổ hết tội thua trận cho tướng quân trước mặt hoàng thượng.
– Vâng, tôi cũng đồ chừng như thế. Ông ta là tiến sĩ vẫn hợm mình có chữ nên “mục hạ vô nhân”. Khó làm việc cùng nhau.
Hùng Bản nói:
– Tạm thời tướng quân ở lại châu Quảng Nguyên. Đất ấy vốn thuộc về Giao Chỉ, mấy tên tù trưởng đem dâng làm của cống nạp khi sang theo ta. Đợi yên ả rồi tính. Ta ngầm nhận lời của Vương Tể tướng giúp ông trong lúc này. Nhưng về danh nghĩa triều đình, ông chớ xuất đầu lộ diện.
– Thật không biết lấy gì báo đáp sự cưu mang che chở của đại nhân.
Hùng Bản dặn thêm:
– Đất ấy tuy không quá rộng lớn nhưng dân man động nói trong lòng nó chứa rất nhiều mỏ vàng, mỏ bạc. Vàng chứa cả trong đá. Từ xưa đến nay, thỉnh thoảng vẫn có người nhặt được vàng chảy ra suối mùa lũ. Nếu đúng vậy thì tướng quân có cơ chuộc được lỗi lầm.
Quách Quỳ tạ ơn Hùng Bản, đem mấy ngàn quân bản bộ đóng trại chiếm ba châu, sáu quận thuộc châu Quảng Nguyên. Để khẳng định chủ quyền, Quách Quỳ tấu trình lên Hùng Bản cho đổi vùng đất chiếm của Đại Việt thành hai châu Thuận An và Quy Hóa.