Ông đồ Lê Thành là một nhà Nho uyên bác. Từ lúc còn ít tuổi, cha đã gửi ông ra Thăng Long học chữ thánh hiền. Lê Thành may mắn được thụ giáo thày Lý Công Ân, một nhà Nho uyên thâm thuộc tôn thất nhà Lý. Vương tử Lý Công Ân không ra làm quan. Ông mở trường dạy học ở phía tây thành Thăng Long. Ngôi trường quy củ đầu tiên ở kinh đô mang tên Bái Ân. Môn sinh trường Bái Ân phải là người tài năng, đức độ lắm mới được thầy Lý nhận vào học.
Nhà nước Đại Việt chưa mở chế độ khoa cử. Học trò trường Bái Ân ít có dịp tỏ được tài năng của mình với xã tắc. Môn sinh trường Bái Ân phần lớn nối nghiệp thầy. Họ tỏa về các thôn ổ dạy học, truyền thụ kiến thức. Tiếng tăm thầy Lý Công Ân và ngôi trường mang tên Bái Ân vang vọng khắp nơi.
Ông đồ trẻ Lê Thành về giáp Đông Cứu, hương Gia Định mở lớp. Học trò lên tới hàng trăm. Chỉ mươi năm mở lớp, tài học và đức độ thầy Lê Thành đã vang vọng khắp phủ Thiên Đức. Người trong vùng kháo nhau: “Ở phủ Thiên Đức này chỉ ông đồ Lê Thành là không bao giờ hết chữ”. Danh lan tới kinh đô, nhiều Nho sinh lặn lội từ Thăng Long về xin thụ giáo. Không chỉ giỏi chữ, ông đồ Lê Thành còn là một thầy lang rất mát tay. Nhà ông đồ vừa là nơi bảo học vừa chữa bệnh cho người dân.
Trong số môn sinh của ông xuất hiện những người rất giỏi giang. Đứng đầu là bốn cái tên: Hà Ngô Tự, Nguyễn Lượng, Lê Văn Thịnh ở giáp Đông Cứu và Nguyễn Trực Nhẫn giáp Song Giang thuộc phủ Thiên Đức. Cho Thịnh theo học cùng các bạn, nhưng ông đồ Lê Thành rất nghiêm khắc với con. Sở học của Thịnh ngày càng nổi trội, nhưng bao giờ ông đồ cũng xếp Thịnh đứng thứ ba sau Hà Ngô Tự và Nguyễn Lượng.
Tin từ Thăng Long, triều đình sắp mở khoa thi kén chọn người tài ra làm việc nước. Thật quá đỗi mừng vui với những người làm nghề bảo học như ông. Lê Thành truyền niềm vui đó cho các trò. Không khí đua tranh sôi kinh nấu sử thêm rộn rã. Sĩ tử khắp nước mong ngóng triều đình sớm mở khoa thi để họ được thi thố tài năng. Đem tài học ra phụng sự xã tắc. Với sức học của con, ông đồ Lê Thành tin Thịnh sẽ giật giải cao. Có được vốn kiến thức ấy nhờ từ khi con biết nói sõi, ông đã dạy cho Thịnh những chữ đầu tiên trong cuốn sách vỡ lòng “Tam tự kinh” (三字經) (2). “Tam tự kinh”, sách khai tâm cho trẻ con viết bằng Hán tự cổ. Nó chứa đựng trong đó tinh hoa “ba bồ chữ” của khắp thiên hạ. Hiểu được nghĩa lý “Tam tự kinh” là đã hiểu biết cuộc sống, hiểu đạo lý làm người. Là “kinh”, lại thể hiện bằng Hán tự cổ nên không dễ học. Thấu đáo nghĩa lý của nó càng khó. Nhiều khi đọc quàng quạc, thuộc lầu lầu mà kiến thức vẫn tuột đi như “nước đổ đầu vịt”. “Tam tự kinh” phải có thầy giảng (dịch) nghĩa lý. Giảng từng chữ. Giảng từng câu mới ngộ ra được. Cổ ngữ: “Nước đổ đầu vịt” và “Không thầy đố mày làm nên” bắt nguồn từ đây chăng? Không một đứa trẻ nào học chữ Nho mà không mở miệng đọc sáu chữ khai tâm: “Nhân chi sơ, tính bản thiện”. Và bài học đầu đời ấy cũng chỉ có mười tám chữ: “Nhân chi sơ, tính bản thiện/ Tính tương cận, tập tương viễn/ Cẩu bất giáo, tính nãi thiên”(3). “Tam tự kinh” khép lại cũng chỉ bằng hơn chục chữ như chân lý sống muôn đời:“Nhân di tử, kim mãn doanh/ Ngã giáo tử, duy nhất kinh/ Cần hữu công… Nghi miễn lực”(4).
“Tam tự kinh” dạy người ta chỉ có thế. Nhưng muôn đời đúng. Vậy mà ngàn năm sau, dù đã đọc thiên kinh vạn quyển, thành ông nọ bà kia, bằng cấp, danh xưng đầy mình mấy ai đã hiểu nổi, đã làm được điều răn dạy trong vài trang sách mỏng manh đó! Với ông đồ Lê Thành, “Tam tự kinh” còn giống như một quẻ bói, một phép thử, một giọt nước tinh sạch rỏ vào tâm trí đứa trẻ giờ học đầu tiên trong đời. Bao giờ ông cũng rất để tâm đến từng trò lần đầu nó cất lên mấy chữ đó. Khuôn miệng, ánh mắt. Hồ hởi hay lơ đãng. Để tâm hay, vò đầu, nhíu mày, ngáp vặt… đều cho ông biết cái tâm thế tự nhiên của đứa trẻ khi tiếp xúc với chữ thành hiền. Ông nhận ra ngay sự giỏi hay kém của nó sau này.
Thật mừng, con trai ông tiếp nhận bài học khai tâm với một sự chú ý cao độ. Ông đồ kinh ngạc nhận ra sức học như “ăn sách” của Thịnh. Không phải nghe mà như nuốt những lời cha giảng. Mỗi ý, mỗi chữ tựa giọt nước mát lành rỏ vào nỗi khao khát. Như giọt nước thanh sạch thấm vào tờ giấy bản. In khắc vào tâm trí. Vì thế lên năm tuổi Thịnh đã hiểu lễ nghĩa, biết kính trên nhường dưới. Mười hai tuổi đọc hết “Tứ thư, Ngũ kinh” (5). Đó là điều lạ. Rất lạ, rất hiếm trong số học trò của ông. Một lần mới chín tuổi, học “Tam tự kinh” đến câu: “Mạnh Tử giả, thất thiên chỉ” (6) Lê Văn Thịnh đòi cha cho đọc sách Mạnh Tử. Ông đồ hỏi:
– Tại sao có nhiều sách mà con lại xin đọc sách của đức Mạnh Kha?
Lê Văn Thịnh khoanh tay thưa:
– Thưa cha, hôm trước nghe cha đàm đạo với bác Lãn về câu chuyện “ăn trộm gà” có nhắc tới lời răn của đức Mạnh Tử, con rất thích ạ.
– Ồ ta không nhớ, con đã thích thì ta cho đọc. Nhưng không nên tham lam, ôm đồm. Lời thánh hiền cũng như thuốc trị bệnh. Đã là thuốc thì phải có liều lượng. Cha thấy con đọc nhiều quá. Mà cái gì cũng ham đọc không khéo “tẩu hỏa nhập ma”.
– Thưa cha, con không hiểu nhiều. Nhưng nhớ lời đức Mạnh Tử răn người ăn trộm: “Việc gì làm được thì nên làm ngay. Đã biết việc mình làm là xấu thì nên sửa ngay”. Con thích câu đó và muốn đọc sách của ngài ạ.
Ông đồ Lê Thành xoa đầu con trai rồi vuốt râu cười khoái trá. Lê Văn Thịnh tuy còn nhỏ nhưng ghi nhớ lời bậc thánh, biết rút ra ý nghĩa răn dậy trong đó. Vậy là biết cách học. Biết cách nắm lấy cái lõi của chữ nghĩa.
Năm mười bốn tuổi, Lê Văn Thịnh càng thể hiện rõ năng lực của mình. Nhìn sao trời biết thiên văn, ngắm thế đất tường địa lý. Những chuyến lên núi Thiên Thai hái thuốc cùng cha, Lê Văn Thịnh đã nhận biết được hàng chục cây thuốc. Hiểu rõ công dụng của từng loại. Rất tinh ý khi bắt mạch xét đoán bệnh. Một lần Hà Ngô Tự thưa với ông đồ rằng trong tranh luận giữa bạn học, Lê Văn Thịnh đều có kiến thức vượt trội. Các bạn phải nhờ Thịnh phụ đạo thêm cho mới hiểu được hết bài thầy dạy. Ông đồ Lê Thành nghe thế biết vậy. Sự thăng tiến trong việc học của con trai khiến ông đồ rất mừng. Nhưng để Thịnh không nhiễm phải thói kiêu ngạo, khoe giỏi với bạn, ông không bao giờ khen con.
Sức học thần đồng của Lê Văn Thịnh đồn thổi khắp nơi. Không biết từ đâu, người phủ Thiên Đức truyền tai nhau rằng: “Giáp Đông xuất hiện hổ thần. Trời
Nam nhân kiệt thật gần, đâu xa”. Cứ nghêu ngao như sấm truyền, như đồng dao thế. Học trò thầy đồ Lê Thành luận rằng “giáp Đông” là ý nói giáp Đông Cứu. Còn “hổ thần” ứng với tuổi dần của Lê Văn Thịnh. Ông đồ gọi Nguyễn Lượng và Nguyễn Trực Nhẫn tới hỏi. Cả hai học trò của ông đều cho rằng sức học của Lê Văn Thịnh vượt họ một bậc. Câu ấy là nhằm ngợi ca Lê Văn Thịnh. Ông đồ Lê Thành cấm chỉ các trò nhắc câu ca ấy trong lớp. Ông bảo: “Các trò đừng vận vào cho Thịnh như vậy. Câu “nhân kiệt trời Nam” là quá lớn. Quá ngạo mạn, bốc đồng. Không khéo bị khép vào tội lộng ngôn”. Ông đồ sợ con tự mãn lơ là việc học, chứ thực trong tâm ông cũng nghĩ ai làm ra câu đó là hàm ý nói về tài học của con trai mình.
Em gái Thịnh, Lê Hoàng Mai cũng được cha cho học chữ từ khá sớm. Mai rất sáng dạ. Ông đồ Lê Thành giao cho Thịnh kèm cặp em. Vậy là cô bé không chỉ có một thầy mà là hai. Việc ấy giúp Lê Văn Thịnh tích lũy vốn sống, rèn tập được khả năng truyền thụ kiến thức cho người khác.
Nhà ông đồ Lê Thành ở chân núi Thiên Thai: “Thiên Thai đài trời chín ngọn”. Câu ca của người dân in vào tâm trí Lê Văn Thịnh niềm tự hào về hình sông thế núi quê mình. Dãy Thiên Thai có chín ngọn. Ngọn cuối cùng bên này sông Thiên Đức vươn cao nhất mang tên chung cả dãy. Nhìn từ xa Thiên Thai như con rồng đang bơi về biển. Mình rồng nhấp nhô.
Truyền thuyết kể rằng Thiên Thai vốn xưa kia là ngọn núi đứng cuối dãy Thiên Sơn (Nham Biền). Một quần thể 100 ngọn núi chạy từ châu Lạng Giang xuống tới hương Yên Dũng lộ Bắc Giang. Thời khai thiên lập địa, 100 ngọn Thiên Sơn sừng sững. Ngọn chủ cao nhất mang tên Non Vua. Trên đỉnh Non Vua có bàn cờ đá, có giếng Tiên. Các thiên thần thường đến chơi cờ,
ngắm cảnh. Tiên nữ xuống tắm. Ngọn đứng cuối dãy, không biết vì yêu biển hay bị vẻ đẹp của bình nguyên Thiên Đức hút hồn mà nó quay mình bơi về phía đông. Giống như con rồng thoắt ẩn, thoắt hiện thành 9 khúc. Ngọn lớn nhất như đầu rồng ngẩng cao mang tên Thiên Thai nằm ở giáp Đông Cứu. Núi Thiên Thai vươn đủ độ cao đón nhận luồng khí thiêng của trời. Tích vào lòng nó nguồn nước thanh sạch. Trải bao năm tháng mỡ mầu phù sa dòng sông Thiên Đức đắp bồi tạo ra vùng sinh trưởng cho rất nhiều cây thuốc quý.
Nhà ông đồ Lê Thành ở lửng chân ngọn núi này. Quanh nhà ngập mầu xanh cây trái. Vào mùa hái thuốc mùi hương dược liệu ướp thơm cả xóm đồng rừng. Trong nhà ông lúc nào cũng đông người bệnh. Ai ở xa đến chữa, ông cho ăn nghỉ tại đó, khỏi bệnh mới về. Không ít hoàn cảnh nghèo khó quá, ông bà đồ không lấy tiền thuốc, còn nuôi ăn. Lê Văn Thịnh học được ở cha, mẹ cái đức làm phúc cứu người.
Vừa bảo học vừa chữa bệnh, ông đồ Lê Thành và vợ, con bận luôn chân luôn tay. Nhưng đó là những tháng ngày đẹp nhất, vui nhất trong đời họ.
Để giúp bạn hiểu rõ hơn về nội dung, sau đây là phần chú thích của chương 2. Mời bạn nghe cùng BÚC CÁC:
(2). Sách vỡ lòng dạy trẻ con Trung Quốc do Vương Ứng Lân tự Bá Hậu soạn vào đầu đời Bắc Tống.“Tam tự kinh” có 1.140 chữ (tự), chia làm 44 đoạn. Nội dung đúc kết lời dạy của các bậc thánh hiền nhiều đời nên gọi là (kinh).
(3). Con người ai cũng lương thiện khi mới sinh ra. Nhưng lớn lên nhiễm phải thói xấu, nếu không được dạy dỗ chỉ bảo tính nết sẽ đổi rời.
(4). Người ta để lại cho con vàng bạc đầy hòm, ta chỉ dạy và để lại cho con một bộ sách, biết siêng năng, cố gắng thì sẽ thành công.
(5). Tứ thư – Ngũ kinh là những trước tác đứng đầu trong kho tàng văn học cổ điển nổi tiếng của Trung Quốc. Tứ thư gồm 4 cuốn: “Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh Tử”. Ngũ kinh gồm 5 cuốn: “Kinh thi, Kinh thư, Kinh lễ, Kinh dịch và Kinh Xuân thu”. (6).Nghĩa là: Bộ sách “Mạnh Tử” chỉ có bảy thiên thôi”.