Ra quân trận nào thua trận ấy, Quách Quỳ càng mù tịt trước ý đồ của Lý Thường Kiệt. Tướng binh nhà Tống co cụm trong lo âu. Tâm trạng rất nặng nề. Để lấy lại tinh thần, Quách Quỳ ra lệnh hằng đêm dùng máy bắn đá liên tục sang bờ nam. Trò trẻ con ấy chỉ làm cho lính Đại Việt thêm vui. Nhùng nhằng nửa tháng nữa, lương thực đã cạn mà các đội cung ứng hậu cần không thấy đâu. Quách Quỳ cử viên tiểu tướng Diên Chủng về trại Vĩnh Bình đốc lương.
Đến Quảng Tây mới biết, để vận chuyển lương thực, quân bị cho đạo quân hơn chục vạn người vào sâu lãnh thổ Đại Việt, nhà Tống cần tới bốn mươi vạn dân binh. Nhưng ngay từ đầu cuộc chinh phạt, bằng đủ mọi cách Vương An Thạch chỉ huy động và cưỡng bắt được hai mươi vạn phu dịch. Nôn nóng trả thù, Vương An Thạch bẩm báo bừa lên Tống Thần Tông mọi chuẩn bị đã sẵn sàng.
Dân binh bị ép đi phục vụ đạo quân Quách Quỳ phần lớn là người các châu phủ phía nam, sát với Đại Việt. Họ vốn đem lòng oán hận các chính sách kinh tế của Vương An Thạch. Lại chán ghét chiến tranh nên nhiều dân binh bỏ trốn. Ở Liêm Châu, Đản Châu dân binh còn nổi dậy cướp lương, đốt phá kho tàng. Vương An Thạch nghe trình báo nhưng cũng không còn người để mà huy động.
Diên Chủng trở lại gặp chủ tướng Quách Quỳ với toàn tin xấu. Quách Quỳ mời phó tướng Triệu Tiết tới nghị bàn. Đến thì đến, nhưng ngay từ đầu cuộc xuất binh trong lòng Triệu Tiết đã không phục vì phải ở dưới quyền Quách Quỳ.
Lý do gần là trong “Thảo Giao Chỉ chiếu” Tống Thần Tông giao Triệu Tiết làm chủ soái. Nhưng Vương An Thạch lại đặt Quách Quỳ ngồi lên đầu Triệu Tiết. Còn lý do xa hơn bắt nguồn từ nhiều năm trước.
Phó Chiêu thảo sứ Triệu Tiết tự là Công Tài, sinh năm 1026 ở Y Chánh, Cung Châu, phủ Tứ Xuyên. Tiết là viên tướng có học vấn cao. Triệu Tiết đỗ tiến sĩ, được giao chức tư pháp tham quân. Gần như cả cuộc đời binh nghiệp của Triệu Tiết gắn với chiến trường chống nhà Tây Hạ. Triệu Tiết gặp Quách Quỳ khi nhậm chức Tiết Chưởng cơ nghi văn tự Thiểm Tây. Lúc ấy Quách Quỳ đang làm Tuyên phủ sứ này. Làm việc dưới trướng Quách Quỳ, Triệu Tiết thấy Quỳ là một kẻ võ biền. Kiến văn rất mỏng mà hống hách, tự phụ. Sau thời gian ở Thiểm Tây, Triệu Tiết được điều về Biện Kinh bổ chức Viên ngoại lang bộ Lại.
Tể tướng Vương An Thạch giao Triệu Tiết làm phó cho Quách Quỳ. Triệu Tiết ngao ngán thốt lên: “Trời hỡi, sao cứ bắt ta phải hầu hạ một kẻ đớn hèn, ngu dốt như vậy”. Nghĩ thế nhưng lệnh vua không thể thoái từ. Ở dưới trướng Quách Quỳ mà trong bụng không phục khiến sự hiệp tác của hai viên tướng lắm phen trục trặc. Nhiều ý kiến bàn góp của Triệu Tiết bị Quách Quỳ bác thẳng thừng trước mặt các tùy tướng. Triệu Tiết càng ôm hận.
Mấy trận đại bại vừa rồi đều diễn ra nơi Quách Quỳ trấn giữ, Triệu Tiết gần như vô can. Lương thực cạn, thua liên miên, tâm trạng lính Tống chán nản không muốn đánh nhau nữa. Có tướng dưới quyền khuyên Quách Quỳ lui binh. Chủ tướng Quách Quỳ đang phân vân, chưa biết tiến thoái ra sao thì Lý Thường Kiệt bất ngờ đánh sang bờ bắc.
Sau trận phục binh đội quân Miêu Lý, Thái úy Lý Thường Kiệt dẫn Binh bộ thị lang Lê Văn Thịnh ngược bờ nam sông Như Nguyệt thị sát địa hình. Lính do thám vượt sông vẽ sơ đồ quân doanh Triệu Tiết. Lý Thái úy nhận ra cách bố trí thế trận giữa Quách Quỳ và Triệu Tiết rất sơ hở. Chủ soái, phó soái cầm hai đạo binh lớn đóng cách xa nhau sáu mươi dặm. Xảy chiến sự, đầu đuôi khó cứu được nhau. Đã thế quân doanh Triệu Tiết rất sơ sài. Tường lũy không kiên cố. Đóng quân xa chiến tuyến, viên phó tướng này cũng có phần chủ quan.
Ngày khởi sự, hai trăm chiến thuyền do các vương tử Hoằng Chân, Chiêu Văn chỉ huy rầm rộ từ cửa Vạn Xuân tiến vào sông Như Nguyệt. Bờ nam bến Thị Cầu, bến Vạn Xuân các tướng Mã Kỷ, Nguyễn Lãnh chỉ huy hai đạo binh lớn chuẩn bị tiến sang bờ bắc. Tất cả đều nhằm thẳng phòng tuyến của chính của quân Tống. Quách Quỳ dự đoán Lý Thường Kiệt sẽ dùng thủy, bộ lớn đánh thẳng vào soái doanh. Hắn lệnh điều gấp nửa số quân của Triệu Tiết về tiếp ứng.
Yên Đạt, Trương Thế Cự, Vương Mẫn, Lý Tường, Diên Chủng… mỗi viên tướng bịt chặt một bến sông. Máy bắn đá sẵn sàng dội đạn xuống quân Đại Việt.
Quách Quỳ lần nữa không ngờ đó là đòn nghi binh của quân đội Đại Việt. Hút được lực lượng lớn quân Tống vào hướng đánh giả, Thái úy Lý Thường Kiệt trực tiếp chỉ huy bất ngờ đánh úp quân doanh Triệu Tiết. Đang đêm trong núi dội xuống, dưới sông vọng lên tiếng quân reo, ngựa hí. Lính Đại Việt thét rung đất. Chưa hiểu ngô khoai ra sao thì lều trại giặc Tống bốc cháy đùng đùng. Ba bề, bốn bên chỗ nào cũng thấy lửa. Trong tay còn vạn rưỡi lính nhưng Triệu Tiết không chỉ huy nổi. Lính Đại Việt tả xung hữu đột. Quân Tống chống đỡ yếu ớt. Nhiều tên không kịp mặc giáp. Sau vài canh giờ, gần một vạn lính Tống bị giết. Xác nằm la liệt trên cánh đồng, chân núi, mép bãi thuộc hương Hiệp Hòa. Những tên sống sót đứa chạy về quân doanh Quách Quỳ. Đứa chạy ngược lên mạn bắc. Mãi sau này chúng còn rùng mình mỗi khi nghĩ tới “cánh đồng xác” đêm ấy.
Phó Chiêu thảo sứ Triệu Tiết bỏ quân doanh, lẩn vào giữa đám lính hộ vệ chạy xuống Như Nguyệt. Hai viên tướng cao nhất chỉ huy cuộc xâm lăng Đại Việt nhìn nhau đẫm lệ. Lúc ấy Quách Quỳ mới hiểu ra, mấy trăm chiến thuyền Đại Việt cùng những cánh quân rầm rộ bên bờ nam Như Nguyệt là đòn nghi binh của Lý Thường Kiệt. Trò Dương đông kích tây quá hiểm.
Phá hủy quân doanh của phó tướng Triệu Tiết, giết gần một vạn quân Tống không khác gì đòn sấm sét làm rung chuyển toàn bộ phòng tuyến của giặc. Mất thủy quân, nay mất nốt thế ỷ dốc, Quách Quỳ phải lo co cụm lại. Dù không dám thú nhận nhưng cả Quách Quỳ, Triệu Tiết đều hiểu cuộc chinh phạt đã thất bại.
Trận ấy, thủy quân Đại Việt chỉ làm nhiệm vụ nghi binh, nhưng tổn thất khá lớn. Đau xót nhất cả hai vương tử Hoằng Chân và Chiêu Văn tử trận. Hàng trăm máy bắn đá của quân Tống nhằm vào đội thuyền chiến của nhà Lý. Đạn đá dội xuống như mưa. Gần một ngàn thủy binh bị chết. Thái úy Lý Thường Kiệt cùng tướng sĩ bàng hoàng. Ba vị tướng thủy binh xuất sắc của quân đội nhà Lý đã mất hai.
Lý Thường Kiệt giao tướng Lý Kế Nguyên chỉ huy toàn bộ thủy quân. Năm trăm chiến thuyền chia ra chốt chặt các cửa sông và mười một bến đò ngang đối diện phòng tuyến quân Tống.
Soái doanh quân đội Đại Việt một ngày thật buồn. Hai vị tướng trẻ Hoằng Chân, Chiêu Văn đều là vương tử con vua Lý Thái Tông. Hàng vạn binh sĩ ngã xuống từ đầu cuộc kháng chiến bảo vệ giang san Đại Việt chưa có thời gian tưởng niệm. Thái úy Lý Thường Kiệt sai làm lễ truy điệu giản dị ngay trên chiến địa. Các tướng lặng lẽ tham dự. Ngàn binh sĩ chống giáo đứng im phăng phắc. Dù không một lời thốt ra nhưng ai cũng nung nấu bắt lũ giặc Tống phải trả giá cho hành động xâm lăng của chúng.
Quách Quỳ giờ không còn cơ hội đánh sang bờ nam, nhưng trong tay hắn còn gần bảy vạn quân. Phòng tuyến kiên cố. Kiểu tập kích bất ngờ như trận xóa sổ quân doanh Triệu Tiết vừa qua không thể lặp lại. Thái úy Lý Thường Kiệt trăn trở. Làm cách nào đánh gục tinh thần giặc? Làm cách nào đuổi nhanh quân Tống ra khỏi bờ cõi Đại Việt? Nhùng nhằng kéo dài sẽ gây thêm tổn thất xương máu của binh lính.
Sau lễ tưởng niệm, Thái úy Lý Thường Kiệt giữ Binh bộ thị lang Lê Văn Thịnh ở lại. Ông bảo:
– Giặc Tống đã mất thế trận. Lúc này Quách Quỳ, Triệu Tiết đang rối trí, chính là lúc thực hiện diệu kế của Thị lang. Đánh vào đầu óc chúng. Đánh sập ý chí của chúng.
Lê Văn Thịnh cung kính:
– Thái úy đại nhân tính toán như thần. Hạ quan cũng đã nghĩ như thế. Song rất mong đại nhân chỉ cho nên tiến hành như thế nào? Viện xin thần nhân nào?
Lý Thường Kiệt mở cuốn sổ trên bàn, cầm đưa cho Lê Văn Thịnh một tờ giấy viết sẵn. Trên đó chỉ có bốn câu thơ. Nét chữ thảng thốt, như vội vã. Đọc xong, Lê Văn Thịnh sụp xuống kinh ngạc:
– Hồng phúc nhà Lý ta vượng lắm. Đã sinh ra và trao vận mệnh vào tay hai vị Quốc lão thông tuệ và hùng lược nhường này. Kẻ học trò lấy làm vinh hạnh vô cùng được theo hầu dưới trướng Quốc lão Thái úy đại nhân.
Lý Thường Kiệt ra hiệu Lê Văn Thịnh đứng lên:
– Thị lang là người đỗ đầu kỳ thi Minh kinh bác học vừa qua, cùng với Lý Thái sư có thể coi là hai nhân tài đại diện cho học thức nhà Lý. Ta chỉ là một tướng võ biền. Xưa nay vẫn ngại nhận là mình có chữ. Nhưng sau những chiến công to lớn và sự xả thân vì nước của tướng sĩ, muôn dân tự nhiên lòng nổi cảm hứng. Trong mơ như có lời thần nhân mách bảo. Ta chỉ chép ra thôi, không dám nhận là của mình.
Lê Văn Thịnh nhìn Lý Thường Kiệt ngạc nhiên:
– Hạ quan chưa hiểu thâm ý của Quốc lão Thái úy đại nhân ạ?
– Ta đã theo hai đời tiên đế, hiểu rằng cái họa lớn nhất, sự mất còn của giang sơn Đại Việt lúc nào cũng đều xuất phát từ một kẻ thù. Đó là các triều đại Trung Hoa. Từ kỷ Hồng Bàng, Thục An Dương Vương, Trưng Nữ Vương… tới nay, vua chúa Trung Hoa luôn coi nước ta là một châu quận của chúng. Lãnh thổ mà cha ông ta khai phá nên chúng cũng coi là của thiên triều. Chúng tự cho mình cái quyền ban phát cho hay thu lại. Ngay từ thời lập quốc, chí khí của dân ta, lòng quả cảm của dân ta đã hóa thân thành đức Thánh Gióng đánh tan giặc Ân xâm lược, khẳng định: “GIANG SAN ĐẠI VIỆT LÀ MỘT CÕI RIÊNG!”. Ý chí ấy nay cần phải nói rõ bằng văn tự ghi trong sách trời. Nhiều đêm ta cứ nung nấu điều đó. Và trong chiêm bao những lời này vang lên trong đầu. Nó in khắc vào óc ta. Tiên tổ mượn tay ta mà ghi ra vậy. Không phải của ta. Đừng cho là của ta. Và ta nghĩ không lúc nào bằng lúc này, trên chính mảnh đất cha ông ta đang bị chúng dẫm đạp, hãy thét lên. Thét vào mặt quân Tống rằng chúng sẽ bị đánh tơi bời nếu còn dám bước chân vào đất đai, lãnh thổ thiêng liêng của Đại Việt ta.
Giọng Lý Thường Kiệt run rẩy. Vút cao. Vị thống soái hàm răng như va vào nhau. Lê Văn Thịnh lây cái cảm giác lên đồng linh thiêng ấy. Lúc lâu sau, Lý Thường Kiệt nhỏ nhẹ trở lại:
– Thị lang xem có phải chỉnh sửa gì không?
– Thưa Quốc lão đại nhân. Không dám ạ. Không dám ạ. Đọc xong học trò chỉ biết kính sợ. Bốn câu thơ này gói gọn, nêu bật cả ý chí, chủ quyền, khí phách hùng anh tiên tổ cùng cương vực mà trời trao cho con dân Đại Việt. Tiểu tướng nghĩ đây chính là lời thần. Xin phép được gọi áng thơ này là bài thơ “THẦN”.
Lý Thường Kiệt xua tay:
– Liệu có ngạo mạn quá không?
Lê Văn Thịnh xúc động dâng trào:
– Không ạ. Lời thần nhân qua khối óc bàn tay đại nhân hiện ra. Vì thế cần phải có một cái tên xứng với tầm vóc và sức mạnh phi thường của nó.
Lý Thường Kiệt ngăn Lê Văn Thịnh lại:
– Quan Thị lang lại khen ta rồi đấy. Ta đã nói không phải của ta. Đừng khen ta. Đừng gán cho ta.
– Không ạ. Thực sự là kẻ học trò không biết nói lời nịnh hót bề trên. Nhưng đọc xong cứ thấy máu trong người sôi sục. Tâm trạng muốn vươn vai lớn bổng như đức Thánh Gióng thuở nào. Chính là đây ạ. Chính là đây. Xin Quốc lão Thái úy đại nhân cho kẻ học trò lấy bài thơ này đánh sập ý chí giặc Tống.
Lý Thường Kiệt hỏi:
– Thế ư?
– Vâng. Những lời này có sức mạnh sánh trăm vạn hùng binh. Xin phép Quốc lão Thái úy đại nhân cho học trò đọc to lên ạ.
Lý Thường Kiệt ra hiệu cho Lê Văn Thịnh từ từ. Ông đứng dậy châm hương. Lê Văn Thịnh để bài thơ vào đĩa đặt lên hương án. Mùi trầm tỏa khắp gian phòng. Hai thầy trò cung kính vái anh linh tướng sĩ tử trận. Giọng Lê Văn Thịnh sang sảng vút ngân trong đêm vắng:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư.
Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!
Câu thơ, ý thơ chứa đựng khí hùng thiêng Đại Việt. Lời non sông, tiên tổ. Tiếng thét của ba quân xung trận. Tiếng gầm của bão giông, thác đổ…. Lý Thường Kiệt vô cùng xúc động. Ông quay ra cửa bất chợt thấy hàng trăm tướng sĩ quỳ mọp từ lúc nào. Quân tùy long, lính hộ vệ sắp thành hàng. Một chân quỳ chân gập, giáo mác như rừng. Lửa từ ánh mắt họ. Lửa từ đầu mũi giáo lòe sáng trong đêm. Tâm trạng hừng hực đợi lệnh chủ tướng.
Lý Thường Kiệt lặng đi. Lúc sau ông bảo:
– Thôi, ta dốt về văn học. Thị lang đặt thế nào cũng được. Nhưng khi nãy Thị lang nói nó có tác dụng gì góp vào việc đánh sập ý chí giặc Tống?
Trong trận tập kích doanh trại Triệu Tiết vừa rồi, Lê Văn Thịnh đã được người dân nói đến khu đền thờ hai tướng Trương Hống, Trương Hác nằm ở chân núi phía sau chiến lũy Quách Quỳ. Đó là nơi rất linh thiêng. Ý đồ đánh vào đầu óc mê tín của lính nhà Tống, Lê Văn Thịnh nung nấu nhiều tháng nay giờ có cơ hội thực hiện. Lê Văn Thịnh thưa:
– Trình bẩm Quốc lão đại nhân, phía sau quân doanh của Quách Quỳ có ngôi đền thờ thần Tam Giang. Lính Tống vẫn lén lút trốn đến đây thắp hương khấn vái thần linh phù hộ cho được sống sót trở về nước. Hạ quan nghĩ sẽ “vời” chính các “linh thần” đọc bài thơ này trên đầu giặc. Nó là lời cảnh cáo của thần linh sông núi Đại Việt. Tâm trạng giặc Tống đang hoảng sợ lắm rồi. “Lời thần” không giết chết thân xác nhưng sẽ giết chết hoàn toàn ý chí của chúng.
– Hay quá. Vậy Thị lang cứ tự tiện dùng.
Lê Văn Thịnh cung kính vái chủ tướng Lý Thường Kiệt. Trong lòng dâng lên niềm hứng khởi không thể tả bằng lời.