Phòng tuyến chống quân Tống chạy từ chân dãy Tam Đảo, Đa Phúc đến gần cửa sông Lục Nam. Lợi dụng thế núi, mặt nước, rừng cây mà dựng lũy. Nhiều đoạn không cần đặt nhiều lính canh, giặc cũng khó vượt qua. Trận địa chính là đoạn sông Như Nguyệt, đoạn từ Hiệp Hòa tới cửa Vạn Xuân. Bờ nam, lũy dựng kiên cố. Đóng cọc tre, gỗ. Ven sông, dưới mặt nước là các bãi chông, cọc nhọn, dây bẫy… Như Nguyệt, chốt chặn cuối cùng ngăn giặc vào kinh đô Thăng Long, theo cả hai ngả đường bộ và đường thủy. Đại quân Tống muốn sang bờ nam Như Nguyệt phải vượt qua được đoạn sông rộng hơn trăm mét này. Các bến: Như Nguyệt, Thị Cầu, Vạn Xuân, Tiểu Lâm, Dũng Liệt, Phù Yên, Đẩu Hàn, Phù Cầm, Lượng Sài, Đáp Cầu, Yên Ngô, Bằng Lâm… nền đất cứng, khô ráo, rộng rãi dễ dàng đổ quân được phòng bị rất cẩn thận.
Một lễ xuất quân rừng rực chí khí tại kinh thành Thăng Long. Vua Lý Nhân Tông, Hoàng Thái phi nhiếp chính Ỷ Lan cùng hai vị Quốc lão đứng trên đài cao. Lão tướng, Thái úy Lý Thường Kiệt phong thái uy dũng, tiếng nói sang sảng giao hướng đánh cho từng đạo quân. Soái doanh quân đội Đại Việt đóng tại phủ Thiên Đức. Thái úy Lý Thường Kiệt trực tiếp chỉ huy bảo vệ phòng tuyến Như Nguyệt. Hai hoàng tử thân vương Hoằng Chân, Chiêu Văn chỉ huy 250 chiến thuyền, 15 ngàn thủy binh trấn giữ điểm đầu mút cửa Vạn Xuân ra tới Lục Đầu Giang. Đây là đầu mối tỏa đi tới tất cả các nhánh sông Lục Nam, sông Cầu, sông Thương, sông Đuống vào sông Cả… Từ Vạn Xuân dễ dàng xuống Bạch Đằng, sông Thái Bình ra biển. Hoặc ngược lại vào Thăng Long. Tướng Lý Kế Nguyên lãnh một đạo thủy binh nhỏ hơn,10 ngàn lính và 200 chiến thuyền trấn giữ vịnh Bái Tử Long. Từ cửa biển Vân Đồn ra tới các đảo Quan Lạn, Sinh Tồn, Long Nhĩ… đều có thủy binh phục sẵn. Cả trên bộ, trên biển quân dân Đại Việt đã sẵn sàng.
…
Ngày 18 tháng 1 năm Đinh Tỵ (1077), giặc Tống lóp ngóp về tới bờ bắc chiến lũy. Quách Quỳ, Triệu Tiết đã mất cái thế thượng phong. Muốn đánh nhanh thắng nhanh không được nữa. Chủ tướng Quách Quỳ cho quân dựa vào núi, lập trận địa. Sáu vạn lính Tống đóng dày đặc xuống đến chân dãy Nham Biền gần cửa Vạn Xuân. Phó tướng Triệu Tiết cầm ba vạn lính đóng trại lui về địa phận hương Hiệp Hòa, phủ Lạng Giang, làm thế ỷ dốc. Đầu đuôi cách nhau tới sáu mươi dặm. Chòi cảnh giới dựng trên núi Phượng Hoàng và núi Tiên. Bắc, nam sông Như Nguyệt tập trung hơn chục vạn người của cả hai bên.
Vừa tới, các tướng nhà Tống muốn đánh ngay, nhưng Quách Quỳ quyết định chờ đạo thủy binh tới hợp nhau tại cửa Vạn Xuân. Phải có thuyền lớn mới đổ bộ đươc nhiều quân. Cánh quân thủy nhà Tống do hai viên tướng Hòa Mâu và Dương Tùng Tiên chỉ huy. 700 chiến thuyền cùng 30 ngàn tên lính ngông nghênh tràn xuống vịnh Bái Tử Long. Thuyền giặc rợp đen một vùng biển. Sức như hổ báo, đi như vào ao nhà của chúng. Nhưng vừa đến khu “rừng đảo”, Hòa Mâu và Dương Tùng Tiên khựng lại. Từ trong trùng trùng đảo đá bất thần ào ra những tốp thuyền chiến Đại Việt. Năm thuyền, bảy thuyền một tốp. Tên tẩm dầu nhè buồm, nhè chỗ dễ cháy trên thuyền giặc mà đốt. Như đàn ong lửa, đảo lướt luồn lách dụ thuyền giặc theo vào các khe lạch. Từ đó lại bất thần hiện ra các tốp thuyền khác. Ba bề bốn bên chỗ nào cũng thấy quân lính Đại Việt. Nhỏ, nhanh và rất thiện chiến. Thuyền quân Tống to lớn khó xoay trở. Mải lao theo các tốp thuyền quân Đại Việt, chúng lạc nhau không còn giữ được đội hình.
Đánh ngày, đánh cả đêm. Không khác gì lũ quân bộ bị dân binh xe nhỏ trên cửa ải, thủy quân Tống cuốn theo lối đánh của Lý Kế Nguyên. Hòa Mâu, Dương Tùng Tiên hoảng hốt thấy thuyền chở lương thảo từng chiếc lần lượt bốc cháy. Lại có chiếc bỗng dưng lảo đảo rồi mất biến trong làn nước xanh rợn. Lính Tống run rẩy bảo nhau: “Thủy thần dìm thuyền lương rồi”.
Để khủng bố tinh thần giặc Tống, tướng Lý Kế Nguyên huy động thêm hàng ngàn thuyền đánh cá của dân vào trận. Dân chài tiếp lương ngay trên biển. Đêm đêm gây tiếng động, đốt lửa, quấy đảo khiến giặc Tống không dám ngủ… Chỗ nào cũng thấy thuyền Đại Việt. Không phân biệt được thuyền lính, thuyền dân. Kiểu đánh này làm Hòa Mâu và Dương Tùng Tiên điên đầu rối trí.
Vậy là nửa tháng quanh quẩn trên vịnh Bái Tử Long, Hòa Mâu và Dương Tùng Tiên hao tổn khá nhiều, chỉ còn biết chống đối bị động. Thủy binh nhà Tống bị chia cắt, rệu rã.
Quyết không để chúng có thời gian hồi tỉnh, Lý Kế Nguyên xin tiếp ứng. Ông quyết định đánh một trận thật lớn bẻ gãy hoàn toàn đạo thủy binh giặc. Tướng Hoằng Chân chỉ huy 5 ngàn quân và 100 chiến thuyền trấn giữ cửa Vạn Xuân. Tướng Chiêu Văn lãnh 200 chiến thuyền và 10 ngàn lính băng xuống tiếp viện cho Lý Kế Nguyên. Lực lượng thủy binh quân đội Đại Việt lúc này đã gần ngang bằng số thuyền còn lại của Hòa Mâu và Dương Tùng Tiên.
Hai tướng chọn khúc sông Đông Kênh làm trận địa chính. Khúc sông ngắn, hai bên có lợi cho phục binh. Đạo thủy quân nhà Tống tuy còn nhiều thuyền lớn, đông quân nhưng đã rệu rã tinh thần. Hòa Mâu và Dương Tùng Tiên đứng trước sự khiêu chiến của Lý Kế Nguyên buộc phải dốc hết lực lượng ra đối địch. Nhưng chúng lạ dòng lạch. Binh lính quá mệt mỏi, mất tinh thần. Chưa vào trận đã run. Một ngày đụng độ, đoạn sông Đông Kênh sôi lên bởi mái chèo, bởi tiếng thét say máu. Một trận thư hùng diễn ra đúng với ý đồ của các tướng Đại Việt. Riêng trận này Hòa Mâu, Dương Tùng Tiên mất thêm hơn 100 chiến thuyền. Đánh nữa sẽ mất hết. Hòa Mâu phát lệnh tháo lui ngược về vùng biển Quảng Châu. Số bị tiêu diệt, bị lạc tản mát lên tới hơn 400 chiếc. Vài chục chiếc mắc kẹt liều chết nhằm hướng Lục Đầu Giang. Đám tàn quân này hy vọng tới được nơi Quách Quỳ đóng trại. Nhưng thảm thê thay, Vương tử Hoằng Chân đã đón chúng ở đó. Tất cả đều gửi xác dưới dòng nước sông Lục Nam lạnh giá.
Trận thủy chiến mở màn cuộc chống Tống xâm lược mùa xuân năm 1077, là một võ công rất oanh liệt. Thủy quân Đại Việt đã đập tan hoàn toàn sức chiến đấu của đạo quân thủy nhà Tống trên vịnh Bái Tử Long. Không một chiến thuyền nào lên tới cửa Vạn Xuân, nơi chủ tướng Quách Quỳ đang đợi.
***
Chờ mãi không thấy đạo quân thủy của Hòa Mâu và Dương Tùng Tiên tới, Quách Quỳ tung nhiều nhóm thám sát đi tìm. Song chúng đều bị chặn bắt. Cuối tháng 1 năm 1077, Sau một tháng đặt chân lên Đại Việt, Quách Quỳ quyết định tấn công sang bờ nam. Hắn chọn các bến từ Thị Cầu đến Vạn Xuân làm điểm vượt sông. Không có tầu, thuyền lấy gì đưa mấy vạn người qua sông? Bên kia trận địa phòng thủ của Lý Thường Kiệt như thế nào? Những câu hỏi đốt cháy tâm can viên tướng giặc. Lòng muốn đánh mà bị bó chân bó tay khiến tâm trạng chần chừ. Chưa quyết bề nào thì viên tùy tướng Miêu Lý cấp báo:
– Kính trình Chiêu thảo sứ chủ soái, do thám của ta phát hiện quân Đại Việt bên bờ nam bến Thị Cầu đang rục rịch rời đi.
Quách Quỳ chộp lấy:
– Đúng thế không? Ngươi lập tức cho người dò la thực hư ra sao.
– Tuân lệnh.
Quân do thám nhà Tống lặng lẽ băng trong làn nước sông rét buốt. Chúng sang bờ nam một cách thật dễ dàng. Đúng là không còn lính Đại Việt canh gác như mọi ngày. Xa xa ven rừng thấp thoáng nhiều ánh lửa. Ánh lửa xa dần, nhòa dần. Quân Tống tiến sâu hơn. Đồn lũy trống trơ. Đúng là Lý Thường Kiệt đã bỏ phòng tuyến tháo lui. Miêu Lý lao ngay tới soái doanh. Quách Quỳ nghe bẩm trình liền triệu các tùy tướng trong đêm. Hắn ra lệnh cho Vương Tiến:
– Tướng quân chỉ huy làm cầu phao sang bến Thị Cầu. Huy động tất cả bè mảng sẵn sàng.
Vương Tiến nhận lệnh lui ra. Quách Quỳ quay sang Miêu Lý:
– Tướng quân đem năm ngàn kỵ binh qua sông chiếm giữ bến Thi Cầu và thám sát thực hư quân Đại Việt.
Miêu Lý thưa:
– Nếu quân Đại Việt rút lui. Hẳn Lý Thường Kiệt sẽ lập phòng tuyến tại sông Thiên Đức, hạ tướng nghĩ nhân lúc chúng chưa kịp ổn định. Ta nên đánh cấp tập bất ngờ khiến Lý Thường Kiệt không kịp trở tay.
Quách Quỳ ngẫm nghĩ rồi lệnh:
– Ta giao tướng quân giữ chặt bờ nam Thị Cầu. Tùy tình thế. Nếu thuận lợi có thể cho một mũi tiến sâu thăm dò xem ý định của Lý Thường Kiệt. Song hết sức thận trọng, đề phòng có phục binh.
– Hạ tướng tuân lệnh.
Cầu phao lớn lắp ngay trong đêm. Bè mảng chở 5000 quân của Miêu Lý sang bờ nam. Vừa xong thì trời sáng. Quân Đại Việt lập tức xuất hiện đánh trả. Nhưng lực lượng giữ bến rất mỏng. Kỵ binh quân Tống dễ dàng càn qua. Gặp chống đối, Miêu Lý càng tin Lý Thường Kiệt đã bỏ phòng tuyến Như Nguyệt. Quên lệnh của Quách Quỳ cho rằng có thể có phục binh, viên tiểu tướng này đinh ninh Lý Thường Kiệt thấy quân Tống quá mạnh, nên rút về củng cố phòng tuyến sông Thiên Đức. Miêu Lý nảy ra ý định táo bạo. Táo bạo, bất ngờ lập công lớn. Hắn gọi viên thủ lệnh:
– Người đem theo một cơ đội quay lại bờ bắc cấp báo Quách chủ soái. Lý Thường Kiệt đã bỏ Như Nguyệt lui về sông Thiên Đức. Xin chủ soái lập tức đem đại quân qua sông tiếp ứng. Ta dẫn quân truy theo không cho Lý Thường Kiệt kịp củng cố phòng tuyến.
Viên thủ lệnh dẫn vài chục tên lính quay trở lại bến Thị Cầu. Tâm trạng Miêu Lý lâng lâng. Năm ngàn kỵ binh trong tay hắn là một đạo quân không nhỏ. Càng không nhỏ nếu tạo ra bất ngờ. Áp sát truy đuổi ngay, Lý Thường Kiệt sẽ không biết quân ít hay nhiều dễ bị hoảng loạn. Lúc ấy vài vạn quân nhà Lý có khác gì đàn vịt. Miêu Lý cứ hứng chí đuổi theo ý định táo bạo của mình.
Đi thêm gần chục dặm vẫn không gặp sự chống đối nào. Miêu Lý càng hối thúc lính tiến nhanh. Nhưng vừa chạm đất Thụy Lôi, đám kỵ binh đi đầu nối nhau ngã sõng xoài. Dây bẫy ngựa bật lên. Ba bề bốn bên tiếng reo dậy đất. Miêu Lý lọt vào ổ phục kích. Tên cung, nỏ tứ bề nhằm giặc phóng tới. Trước, sau đều thấy lính Đại Việt. Mấy trăn tên hộ pháp dùng khiên kết làm phên giáp quây quanh Miêu Lý. Chúng liều chết chống đỡ mở đường máu đưa chủ tướng thoát ra. Lính Đại Việt truy theo tiếng thét vang trời. Miêu Lý cùng tàn quân về đến bến thì cầu phao đã bị phá. Có bao nhiêu thuyền, mảng Vương Tiến tung ra đón quân Miêu Lý. Nhìn trước nhìn sau chỉ còn vài trăm tên thoát được. Cuộc đột kích đầu tiên sang bờ nam, giặc Tống mất hơn bốn ngàn kỵ binh.
Chủ tướng Quách Quỳ đã mắc bẫy của Lý Thường Kiệt. Vị thống soái quân đội Đại Việt biết Quách Quỳ đang rất nóng lòng xuất binh. Không còn thủy quân, Quách Quỳ khó có thể cùng lúc đưa đạo quân lớn sang bờ nam. Ông quyết định đánh một trận thăm dò. Xé nhỏ chúng ra. Kéo quân Tống vào trận địa mai phục sẵn. Quách Quỳ đang tức tối dễ nóng nảy mất khôn.
Trước đó, lính Đại Việt lặng lẽ gỡ bỏ hàng rào, bãi chông ngầm trước bến Thị Cầu. Cho các đội gác bến rút đi làm như bỏ phòng tuyến Như Nguyệt. Giặc Tống dễ dàng dựng cầu phao, không gặp cản trở gì. Miêu Lý đưa quân sang chỉ gặp vài chống cự yếu ớt. Nhẽ ra chúng phải nghi ngờ. Nhưng sự nôn nóng, háo thắng, khinh địch khiến các tướng giặc bỏ qua những chi tiết rất sơ đẳng ấy trong phép dùng binh. Khi Miêu Lý sa vào tử huyệt ở Thụy Lôi, một đội quân ém sẵn trong bìa rừng gần bến Thị Cầu liền đánh ra chặt đứt cầu phao. Đúng lúc viên tùy tướng của Miêu Lý dẫn mấy chục tên lính quay lại. Chúng đã không bao giờ về được bờ bắc. Quách Quỳ mù tịt về đạo quân của Miêu Lý.
Trận xuất quân đầu tiên không ngờ thảm bại thế. Quách Quỳ lồng lộn thét đao phủ lôi Miêu Lý ra chém. Các tướng xúm vào xin tha. Yên Đạt, Trương Thế Cự, Vương Mẫn, Vương Tiến… mong chủ tướng gác tội của Miêu Lý lại. Vừa ra quân đã chém tướng sẽ làm nản lòng binh sĩ. Quách Quỳ hậm hực một lúc mới nguôi. Sau này một nhà bình luận quân sự nước Tống ghi lại trận phục kích của Lý Thường Kiệt diệt sạch gần năm ngàn quân Miêu Lý lời lẽ đầy chua chát: “Binh pháp không thuộc. Đơn độc đem quân vào đất địch. Sa bẫy chết thê thảm. Vài trăm lính trở lại bến sông thì chết thêm sáu bảy phần”.
Hai trận thủy, bộ lẫy lừng mở đầu cuộc kháng chiến chống giặc Tống xâm lược diễn ra thật ngoạn mục. Quân đội nhà Lý bị tổn thất không đáng kể. Có thể coi đó là mẫu mực trong kế sách dụ địch, tiêu diệt địch quân đạt hiệu suất cao nhất.
Nhìn dòng sông Như Nguyệt lành hiền, êm ả vậy nhưng Quách Quỳ biết không có đoạn nào bên kia là an toàn cho quân Tống. Nhưng chẳng lẽ cứ án binh. Gần chục ngày sau, Quách Quỳ quyết tâm dồn toàn lực đánh một trận lớn. Hắn ra lệnh các cơ đội chặt tre, gỗ đóng thật nhiều bè, mảng. Mỗi bè chở vài trăm lính. Một lần ào sang có thể đổ bộ cả vạn quân. Nhiều bến cùng tiến thì Lý Thường Kiệt cũng không đủ sức ngăn chặn.
Ngày xuất binh, bè mảng giặc Tống đen kịt mặt sông. Quách Quỳ nhằm bến Thị Cầu. Các tướng Yên Đạt. Trương Thế Cự, Vương Mẫn, Vương Tiến. Miêu Lý chỉ huy năm mũi nhằm năm bến khác cùng tiến. Trống trận, tiếng thét của mấy vặn lính Tống tưởng thủng nhĩ. Nhưng rồi một lần nữa Quách Quỳ không lường tính hết. Bè lớn, độ chìm sâu, cách bờ vài chục mét đã bị vướng. Dưới mặt nước dọc chiến tuyến Như Nguyệt là bãi chông, cọc nhọn, dây bẫy… Xoay trở lúng túng. Quân Tống phơi mình chơ vơ trên mặt sông gần bờ. Lúc này lính Đại Việt trên bờ mới xuất hiện dày đặc. Tên cung, tên nỏ trút xuống. Lính Tống khóc rống lên, nhiều tên ngã nhào xuống nước. Vỡ trận. Quách Quỳ ra lệnh tháo lui. Mất thêm ngàn tên lính khi chưa kịp lên bờ. Bản doanh Quách Quỳ vô cùng bấn loạn. Hắn ra lệnh đóng cửa trại, cố thủ: “Ai hối thúc xuất binh nữa thì chém”.