CHƯƠNG 1: GIA CẢNH


 Giữa đêm một ngày đầu hạ năm Kỷ Sửu (1049), Trần Thị ở thôn Bảo Tháp, giáp Đông Cứu, hương Gia Định, phủ Thiên Đức mơ giấc mơ hãi hùng. Một ngôi sao to như cái đấu từ trên trời sa xuống. Nó chói gắt khiến bà phải nhắm mắt lại. Mọi vật xung quanh nhòa nhợt. Ngôi sao ấy nhằm giữa bụng Trần Thị mà chui vào. Khoảnh khắc rất nhanh. Tỉnh dậy, bà vừa mừng vừa sợ kể cho chồng. Ông đồ Lê Thành thắp hương, mở sách gieo quẻ, bấm đốt rồi reo lên: “Điềm lành đấy mình ơi”!

… Hai chục năm trước, ông đồ Lê Thành gá nghĩa với cô thôn nữ tên Trần Thị, con gái thứ ông đồ Trần Lung thôn Thi Xá, giáp Cách Bì, hương Quế Võ. Duyên tình sắp đặt bởi hai bậc sinh thành mà như được trời se.

Cha Trần Thị và cha Lê Thành là chỗ thân quen. Hai người cùng thụ giáo một thầy đồ ở phủ Thiên Đức. Cha Lê Thành học giỏi nhưng vì cảnh nhà nên theo nghề nông. Cái chữ để dạy con và đọc sách làm vui. Ông đồ Trần Lung ngồi gõ đầu trẻ vỡ lòng ở đình làng. Năm tháng qua đi, tình bạn hữu giữa họ không hề thay đổi.

Đã nhiều lần Lê Thành bê nước, bưng điếu hầu bạn cha đến chơi. Cách trò chuyện của hai cụ làm cu cậu mệt nhoài. Vừa bước vòng quanh cây mai trước sân, vừa đàm đạo. Săm soi ngắm nghía, bình phẩm về cái chí khí quân tử, cao thượng mà cũng rất mềm mại uyển chuyển của cây mai vàng. Lê Thành ôm điếu chạy theo nên đã thuộc tính nết, thói quen. Loanh quanh mãi, cuối câu chuyện thế nào các cụ cũng thả tấm thân ông đồ xuống hai cái ghế mây bên gốc mai. Thưởng trà, hút thuốc, đọc thơ, chúc tụng rồi mới chia tay.

Lê Thành xăm xắn dọn bàn. Đặt cái điếu bát bằng sứ trắng đục có vẽ cây tùng mầu xanh dương lên đó. Lau kỹ se điếu uốn bằng cần trúc cong vút. Đầu cần bọc bạc. Chế thêm nước sôi vào cái ấm tích trong giỏ mây. Vừa lúc hai ông bố hết chuyện. Lê Thành lùi lại. Đứng khoanh tay chờ sai bảo. Cha Lê Thành mở nắp giỏ. Nghiêng ấm. Mầu trà sánh vàng. Hơi tỏa thơm ngát. Hai tay trân trọng nâng chén mời bạn. Miệng ngâm nga:

Ánh dương sắp lặn khỏi lồng hoa
Nỗi buồn muốn tỏ dưới trăng tà
Đàn Triệu dứt tơ trên phím phượng…

Ông đồ Trần Lung đón chén trà nóng hổi nâng lên trên mép. Đưa qua đưa lại. Ông có cách thưởng trà khá lạ. Thưởng hương trước. Hương trà phả lên mặt, len sâu vào mắt, vào mũi. Mắt khép hờ, vài giây sau mới đưa chén trà xuống miệng. Chợp một ngụm. Như nếm. Hai cánh mũi rung rung. Chậm rãi. Tận hưởng. Thư thái. Ngẫm ngợi… Nhìn cử chỉ ông đồ Trần Lung, Lê Thành mới hiểu “thưởng trà” là thế. Thưởng hương. Thưởng vị. Thưởng cái tinh túy trời đất kết tụ trong đó. Tâm trạng thăng hoa, thư thái đồng điệu cùng tri kỷ.

Bài thơ bỏ ngang chừng, biết bạn có ý mời đọc tiếp, ông đồ đặt chén:

… Thục cầm dục tấu phím uyên ương
Gửi núi Yên Nhiên gió xuân nhớ
Nỗi nhớ tới chàng càng cách xa…

Lại dừng. Cha Lê Thành mỉm cười nối giọng:

Mắt xưa sóng gợn, kìa giọt lệ
Sao chàng vời vợi mỗi xuân qua.

Tưởng kết thúc, nhưng chưa. Hai chén trà cùng giơ cao. Đồng điệu:

Góc bể chân trời thường hữu hạn,
Chỉ có tương tư rộng vô bờ.

  – Ha ha…ha…ha…

Ông đồ đứng dậy vái. Cha Lê Thành đáp lễ. Kéo guốc lẹp kẹp tiễn bạn ra cổng. Lê Thành cúi gập người. Ông đồ xoa đầu cu cậu. Thành dọn ấm chén, lau bàn. Dẫu nhiều lần hầu cha tiếp bạn như thế, cậu vẫn lấy làm lạ. Một cụ dạy học. Một cụ làm ruộng mà thân nhau quá thể. Lại rất giỏi nữa. Đàm đạo thơ ca, tranh luận toàn những chuyện cao siêu. Lê Thành không biết, từ những cuộc thăm viếng này, hai ông bố đã thuận tình gả con cho nhau.

… Năm Lê Thành cập tuổi mười tám, cha dắt sang Thi Xá thăm ông đồ Trần Lung. Chuyến đi thực hiện lời các cụ hứa hẹn tác thành cho hai con. Khi ấy Lê Thành đã là một ông đồ trẻ. Tiếng hay chữ của chàng trai đất Đông Cứu lan truyền trong phủ Thiên Đức. Trên đường đi, Lê Thành vô cùng hồi hộp xen chút lo lắng. Không hiểu người con gái mà cha chọn cho mình trông thế nào? Nàng bao nhiêu tuổi?… Nhưng vừa nhìn thấy Trần Thị, ông đồ trẻ đã phục sự tinh mắt của cha.

Thua Lê Thành hai tuổi, Trần Thị như bông hoa đồng nội chớm độ khoe sắc, tỏa hương. Cái thước đo “công – dung – ngôn – hạnh” ướm vào xem ra nàng nhiều phần nổi trội. Mỗi lần ánh mắt gặp nhau, Lê Thành thấy quả là mình may mắn. Là con gái nhưng Trần Thị được cha dạy chữ và bảo ban phép tắc nữ nhi chu đáo, nghiêm cẩn từ nhỏ.

Sang Thi Xá lần này, việc chính là để hai trẻ biết mặt nhau và làm lễ nạp thái. Lê Thành xách theo một cặp ngỗng. Theo đúng lề lối thì phải đủ sáu bước. Do đều có tư tưởng tân tiến, hai ông bố thuận tình ghép thành ba bước cho đỡ nhiêu khê.

Ông bà Trần Lung sửa cỗ kính cáo tổ tiên về hỉ sự tốt đẹp của hai họ. Các bậc tiên chỉ họ Trần tiếp cha Lê Thành ở cái sập gụ cạnh gian chính. Thầy đồ trẻ cùng các huynh, đệ ngồi ăn ở bộ tràng kỷ bằng tre đen nhức gian đối diện. Trần Thị với mẹ và các bà trải chiếu mấy mâm trong bếp.

Chả biết các cụ có để tâm đến ăn uống không. Tiếng trò chuyện không dứt. Cụ trưởng họ Trần cầm chén rượu lên chạm cạch một cái lại để xuống. Cụ khác nhồi thuốc vào nõ. Vít cái se điếu kề miệng. Đóm tre ngâm cháy nỏ rực. Cháy từ đầu đến cuối đóm mà cụ vẫn chưa hút. Lửa bỏng tay. Vẩy vẩy mẩu đóm, rụi tàn vào thành điếu. Châm cái đóm khác, điếu thuốc trong nõ vẫn nguyên. Khà khà cất giọng:

Quan quan thư cưu

Tại hà chi châu

Yểu điệu thục nữ

Quân tử hảo cầu (1).

Cụ khác phụ theo:

Rượu thơm nhờ ở tay tiên

Đất trời rạng rỡ duyên thiên đến rồi

Gió vờn, hương rượu chơi vơi

Dẫu xa cách vẫn cả đời tìm nhau.

Ha ha… ha… ha…

 Các cụ tình ý quá. Cánh trai trẻ vừa ăn vừa mủm mỉm cười. Thỉnh thoảng các cậu lén đưa mắt nhìn. Mâm các cụ thức ăn dường như còn nguyên. 

 Chuyến đi ấy mở đầu cho những cuộc “đánh đường tìm hoa” từ Gia Định sang Quế Võ ngày một dày hơn. Năm sau, Lê Thành cùng Trần Thị sánh bước với các bạn khi lễ hội, lúc viếng chùa, vãng cảnh. Dung nhan nổi trội. Lời thưa lẽ gửi cùng tài đối đáp của cô thôn nữ Thi Xá làm ông đồ trẻ Đông Cứu mê như điếu đổ. Lê Thành mong chờ đến ngày đón con gái cụ đồ Trần Lung về Bảo Tháp. 

 Mùa xuân năm Mậu Tý (1048), Trần Thị “lên kiệu hoa” về làm dâu Đông Cứu. Dân thôn quý mến gọi bà đồ Lê Thành.

Mang thai đủ tháng đủ ngày, giờ Dần, tháng Dần năm Canh Dần (1050), đúng khoảnh khắc giao thoa giữa Thiên can và Địa chi vô cùng hiếm gặp, Trần Thị hạ sinh một bé trai. Như ngôi sao trời vừa đậu xuống đem ánh sáng và hơi ấm phủ khắp căn nhà ông đồ trẻ thôn Bảo Tháp bên triền núi Thiên Thai. Lê Thành lập cập thắp hương, mở sách. Đọc đến đâu gương mặt ông sáng bừng đến đấy. Giờ Dần, tiết xuân: “…Vùng vẫy tứ phương, vang danh bốn bể, cốt cách hiếm quý, gia vân hưng thịnh…”. Ông chợt dừng lại, mày hơi nhíu, một chút phân vân: “Vận mạng người trùng khớp các điểm trên đề phòng “Tam hợp biến tam tai”… Đọc vậy nhưng niềm hạnh phúc quá lớn đang dâng lên trong lòng lấn át tâm trạng. Lê Thành mài mực, trải giấy hồng viết lên đó chữ “THỊNH”. Nét chữ thảo, bay bướm mà cứng cáp. Ông đặt tên con là Thịnh. Lê Văn Thịnh.

Lớn lên ở vùng quê nghèo như bao đứa trẻ khác, tâm hồn Lê Văn Thịnh từng ngày được bồi bổ bởi khí đất, tình người Bảo Tháp. Thấm đẫm mồ hôi của mẹ, nghĩa lý của cha, dập dìu cánh cò quan họ và cả tiếng sáo diều vi vút những đêm trăng bên sườn núi Thiên Thai kiêu vĩ. Đến tuổi đi học Thịnh bộc lộ tư chất thông minh hiếm thấy.

Lê Văn Thịnh lên bốn tuổi, vợ chồng ông đồ vui mừng đón cô con gái thứ. Họ vô cùng mãn nguyện. Có nếp có tẻ. Gia đình nhỏ của ông bà lúc nào cũng rộn tiếng cười hạnh phúc.

Có chửa lần này, Trần Thị không thấy điềm lạ như khi mang thai Lê Văn Thịnh. Song ông đồ Lê Thành lại rất hứng khởi. Ông gặp niềm vui không kém. Cây mai vàng trước nhà năm ấy bỗng trổ hoa vàng rực. Đó là chuyện lạ. Rất lạ.

Từ lúc nhỏ bê điếu, bưng nước hầu cha cho đến khi đã là một ông đồ ngồi bảo học, Lê Thành chưa thấy cây mai nở hoa lần nào. Tiết xuân cây chỉ đậu lộc. Lộc bụ bẫm. Mầu tím mướt mắt, rồi bung xanh xum xuê. Những nhà khác trong thôn, giống mai này vẫn đều đặn khoe sắc vào tiết xuân.

Cây mai này tổ phụ ông trồng đã từ lâu lắm. Gốc xù xì, mốc xỉn. Thế cây, dáng cây thực hiếm gặp. Vừa mềm mại vừa hiên ngang kiêu dũng. Lạ nhất, hiếm nhất là cùng một cây mà trổ hai nhánh như quân tử sánh giai nhân. Nhánh huyền vô cùng thích mắt. La đà, quyến rũ. Cành lá vòng qua thân kết thành thất tán tựa bảy giỏ hoa xòe rộng đón khí trời. Nhánh trực khẳng khái, thanh thoát vươn thẳng lên. Tài hoa, lịch lãm. Hình bóng anh hùng cái thế mà đẫm cốt cách văn nhân.

Lê Thành nhiều lần được cha giải thích về vẻ đẹp của cây mai. Nó chứa đủ sự cương nhu, hùng tài của bậc quân tử. Lại thấy sự nhu mì, hiền thục của giai nhân. Thành không hiểu lắm. Nhưng thích. Rất thích. Ngắm cây mai nhiều khi không biết chán. Lớn hơn, được học chữ nhiều hơn, mỗi khi bạn của cha đến chơi, họ luận bàn về vẻ đẹp của cây mai, Lê Thành càng hiểu và yêu quý thêm. Mỗi khi gặp bài học khó hay mỏi mệt trong người, Thành ra ngồi dưới gốc mai. Nhắm mắt lại, tựa vào thân cây, cảm thấy như được tiếp thêm một luồng sinh khí. Lòng tĩnh tâm, hứng khởi trở lại.

… Sáng xuân ấy mở cửa, Lê Thành ngỡ ngàng reo lên: “Mai”. Cả một thảm vàng bừng sáng. Nghe như trong mỗi bông hoa có tiếng cười con trẻ. Tiếng reo của gió trời. Lê Thành lòng tràn ngập hoan hỉ. Ông pha một ấm trà, thả vào đó vài nụ nhài. Ngồi ngắm cây mai, hồn thơ tràn trề: 

Sắc vàng bừng nở bên song

Thanh âm tràn ngập núi sông đất trời

Hỡi chàng quân tử kia ơi

Hoàng mai, nàng đã cất lời giai nhân.

 Vợ mang thai lần này, ông đồ Lê Thành đã nghĩ đến việc đặt tên con. Nếu con trai sẽ là Lê Trọng Trực. Trọng sự ngay thẳng, như dáng trực vươn cao kia của cây mai. Văn Thịnh, Trọng Trực mang kỳ vọng và khí chất tiết tháo của ông. Mong con trở thành những chính nhân quân tử. Vừa giỏi văn học vừa ngay thẳng, liêm chính. Nếu con gái, dẫu nghĩ tới nhiều cái tên nhưng chưa quyết tên nào. Vậy mà sáng xuân nay, trời mách bảo, ông đã có một cái tên cho con gái yêu: Mai. Hoàng Mai. Đúng như mầu vàng sang trọng của loài hoa quý phái này. Nền nã, gần gũi, thanh tao. Ông đồ vui lắm. Lê Thành chưa nói ý mình với vợ. Đúng tuần cúng bà mụ đầy tháng con gái, ông đồ Lê Thành trịnh trọng đặt tên con là Lê Hoàng Mai.

Để giúp bạn hiểu rõ hơn về nội dung, sau đây là phần chú thích của chương 1. Mời bạn nghe cùng BÚC CÁC:
 

Chú thích 1: 4 câu thơ đầu bài thơ tình 5 khổ mang tên “Quan thư” hoặc” Quan quan thư cưu” (khuyết danh), cũng là bài mở đầu bộ Kinh Thi (trong ngũ kinh), được sáng tác đầu thời Tây Chu, khoảng 2600 năm trước.