A. Tác giả Huấn địch thập điều: Vua Minh Mệnh (1791-1841)


Minh Mệnh (húy Nguyễn Phước Đảm), con thứ tư Thánh Tổ, Hoàng hậu họ Trần. Sinh 26.5.1791. Lập Thái tử 1816, lên ngôi 1820 (niên hiệu Minh Mệnh). Băng hà 11.1.1841. Miếu hiệu: Thánh Tổ Nhân Hoàng đế. Trị vì 21 năm, thọ 51 tuổi.

Thánh Tổ thông minh, hiếu học, chuyên cần, tư duy cải cách, giỏi Nho học, sùng Nho giáo. Nghiêm cẩn, thận trọng, chủ động. Đôi khi nghiêm khắc, tàn nhẫn.
Nhiều quan bị giáng, cách chức: Phan Huy Chú (1838), Nguyễn Công Trứ. Cao Bá Quát thất nghiệp 10 năm dù Á nguyên.
Minh Mệnh độc tài, chống Đạo Da tô. Thiết lập Nội các (1829), trung ương tập quyền (1831), Cơ mật viện. Xác định phẩm cấp, lương bổng quan viên (1839).
Tổ chức binh bị, đối phó đối lập: Phan Bá Vành (1826), Lê Duy Lương (1833), Lê Văn Khôi (1833), Nông Văn Vân (1835). Thôn tính Chân Lạp (1835) thành Trấn Tây thành. Tuyệt giao Pháp (1822, 1825, 1829).
Nhân cách quả cảm của vua thể hiện qua lăng Minh Mệnh hùng vĩ, tác phẩm giá trị đời Nguyễn sơ.

Các tác phẩm: Ngự chế tiễu bình Bắc kỳ nghịch phỉ thi tập; Ngự chế tiễu bình Nam kỳ nghịch phỉ thi tập; Ngự chế thi sơ, tam, tứ tập; Ngự chế văn sơ, nhị tập; Minh Mệnh: Chiếu, Dụ; Thánh dụ huấn địch thập điều (1834).