41.3


– Vâng. Tâu đức vua kẻ hậu sinh cũng nghĩ vậy.

Bất ngờ đức vua Lý Nhân Tông nhìn tôi rất lạ. Ánh mắt, nét cười thật hóm hỉnh:

– Còn chuyện Thái úy hay xoa tay lên ngực trái ta cũng tò mò như mọi người thôi. Khi ta lên ngôi, được gần Quốc lão Thái úy, nhiều lần ta cũng lấy làm lạ phải chăng quốc lão bị căn bệnh gì trong ngực trái. Những người đồng triều với Quốc lão cũng thắc mắc như ta, nhưng rồi đều cho là thói quen riêng. Vậy mà rồi…

Tôi hỏi như vồ lấy:

– Rồi sao ạ, thưa đức vua?

– Đây đây. Ta tin chắc quý ông và người đời sẽ rất ngỡ ngàng cho mà xem.

Đức vua Lý Nhân Tông lần nữa mắt hấp háy nhìn tôi:

– Ta nói thế vì đến tận lúc này chính ta cũng bâng khuâng hồi hộp mỗi khi nhắc đến chuyện đó.

– Đức vua làm kẻ hậu sinh hồi hộp quá.

Giọng vua Lý Nhân Tông trầm xuống:

– Năm Ất Sửu (1105), Quốc lão Thái úy qua đời (39). Trong lúc khâm liệm các quan thái y viện bất ngờ thấy trên ngực trái quốc lão đeo một cái túi lụa mầu vàng.

 – Vậy ư. Tôi bật kêu, không nhớ mình đang ngồi trước mặt đức vua Lý Nhân Tông:

– Trong đó có gì ạ?

– Thái y không dám động vào. Họ liền bẩm tâu lên ta. Đích thân ta đến bên Quốc lão. Mở cái túi thì chẳng ai bảo ai tất cả đều chảy nước mắt. Có người khóc rống lên. Ta cũng khóc. Một lọn tóc đen nhưng nhức. Lọn tóc của vợ Quốc lão. Thái úy giữ lọn tóc vợ trên ngực trái, cạnh trái tim suốt 63 năm trời.

Tôi không còn nhớ giữ lễ, vội hỏi:

– Đó có phải lọn tóc của nàng Thường Khanh? Vợ Quốc lão Thái úy Lý Thường Kiệt tên là Thường Khanh phải không ạ?

Đức vua Lý Nhân Tông như chìm vào nỗi trầm tư:

– Của nàng Thường Khanh. Nàng Thường Khanh. Mỗi khi buồn nhớ vợ. Mỗi khi tâm trạng căng thẳng. Trước niềm vui thắng trận hay âu lo khi vận nước bị đe dọa, Quốc lão Thái úy lại xoa tay lên đó. Như muốn chia sẻ niềm vui hay tâm sự với nàng. Ôi, cuộc sống thế đấy. Có bao điều bí ẩn khó ngờ. Nỗi bất hạnh của những nhân tài hùng lược nhất, gần gụi bên ta nhất mà ta đâu có hiểu hết.

Tôi cung kính thưa:

– Muôn tâu đức vua, kẻ hậu sinh quả thật là người có phước và may mắn được hầu chuyện đức vua. Càng ngộ lời Phật dạy: “Tất cả đều do nhân – duyên mà ra. Quy luật nhân – quả luân hồi” cứ nối tiếp mãi.

Chợt như sực nhớ, vua Lý Nhân Tông hỏi:

– Mải chuyện, ta và quý ông hình như chưa nhắc đến cái lý do chính mà quý ông muốn ta trả lời trong cuộc hội ngộ này.

 – Vâng vẫn là những câu hỏi muốn giải mà về cuộc đời về số phận của bốn bậc thiên tài trong triều đại bệ hạ trị vì, nhưng ngộ ra mọi chuyện đều do nhân duyên cả. Kẻ hậu sinh nghĩ…

Vua Lý Nhân Tông giơ tay cắt ngang lời tôi:

– Ta đồng ý với quý ông song lại có chỗ nghĩ khác. Ở cõi ta bà này khổ đau ít hay nhiều, bất hạnh lớn hay nhỏ đều do chính con người tạo ra. Nguyên nhân từ dục vọng. Nếu đổ lỗi hết cho “nhân duyên” thì con người nỗ lực để làm gì. Giữ gìn để làm gì? Quý ông tế nhị mà không nhắc tới lỗi lầm của ta. Thôi để ta nói luôn. Mục đích chính quý ông nhà văn muốn ta trả lời về vụ án “Trạng nguyên hóa hổ” dính đến Thái sư, Trạng nguyên Lê Văn Thịnh. Chính vì câu chuyện ấy mà tâm trạng ta bị dằn vặt suốt ngàn năm nay.

Nhắc tới thái sư Lê Văn Thịnh, đức vua Lý Nhân Tông chừng như chưa hết xúc động. Ngài lặng đi một lúc lâu. Tấm thân trĩu xuống. Tôi lựa lời:

– Muôn tâu đức vua, xin ngài đừng dằn vặt mình nữa. Kẻ hậu sinh muốn mượn lời đức Phật rằng, dù được gọi là “thiên tử” vua cũng người trần mắt thịt. Cũng tinh cha huyết mẹ hợp duyên mà thành. Cũng bị tác động bởi “lục xúc”, bị chi phối bởi tham sân si. Vì thế không tránh khỏi sai lầm. Đức vua hãy một lần đặt mình vào vị trí người bình thường thì sẽ thấy lầm lỗi không quá nặng nề. Kẻ hậu sinh nghĩ chuyện đó cũng là một ẩn số của lịch sử thôi ạ.

Vua Lý Nhân Tông cương quyết. Ngài không muốn nói vòng vo nữa:

– Không! Nếu là một phần của lịch sử, một ẩn số lịch sử thì nó đã bị mờ đi, quên đi theo năm tháng. Nhưng “vụ án” ấy không mờ phai. Ta đã cố quên mà không quên nổi. Một ngàn năm nay ta đau đớn tự vấn mình. Vậy là câu chuyện đã thấu đến trời xanh. Đã vào lòng dân. Thành bia miệng của người đời. Nó khiến lớp bụi thời gian và sự tô vẽ hay bôi trát của lịch sử cũng trở nên bất lực. Và ta nhắc lại để quý ông nhà văn hiểu rõ tấm lòng ta. Tất cả những võ công trong triều đại của ta được hậu thế ca tụng đều diễn ra khi ta còn rất ít tuổi. Song vụ án thái sư Lê Văn Thịnh hoàn toàn do ta quyết định. Lúc ấy ta đã ba mươi tuổi. Tự mình chấp chính hơn mười năm rồi. Vậy mà…

Đúng là đức vua đã quá khổ sở. Ngài muốn bộc bạch hết để trả món nợ ngàn năm cho nhẹ lòng. Tôi đành hỏi:

– Tâu bệ hạ. Ngài đã biết ý định của kẻ hậu sinh muốn làm rõ đúng sai vụ án mà người đời sau cho rằng Thái sư Lê Văn Thịnh bị hàm oan. Vì thế muốn hỏi rất nhiều và hỏi thẳng vào vấn đề.

– Ta đồng ý. Vậy ngàn năm nay, người dân muốn ta trả lời điều gì?

– Tâu bệ hạ, cho đến nay vẫn chưa triều đại nào đứng ra “xóa án” cho Thái sư Lê Văn Thịnh. Mà lòng dân thì khao khát muốn biết: “Thái sư Lê Văn Thịnh có tội hay không có tội? Oan hay không oan?”. Cách đây vài chục năm người dân thôn Bảo Tháp tìm thấy bức tượng rồng đá ngàn tuổi chôn trong đất nhà Thái sư Lê Văn Thịnh. Hình tượng rồng rất kỳ dị. Làm dấy lên bao nhiêu câu hỏi xoay quanh đức vua.

– Thưa quý ông, người dân hỏi những gì về ta?

– Tâu đức vua, người dân hỏi: “Phải chăng “cụ rồng” miệng cắn thân, chân xé mình là hiện thân của đức vua Lý Nhân Tông. Là thông điệp về sự ân hận, dằn vặt của đức vua đã xử oan Thái sư, trạng nguyên Lê Văn Thịnh, vị đại quan nhất phẩm, uyên thâm hàng đầu nhà Lý. Một bậc trung thần hết lòng vì nước. Một người thầy đã dạy đức vua học?

– Phải chăng người khách buôn sang cả, giầu có vào những đêm mưa ngàn năm trước đến lều thợ gặp ông Ninh Trọng Cát, trùm cả thợ đá làng Ninh Vân, trong khuôn viên chùa Diên Hựu, đặt làm bức tượng rồng ấy, chính là đức vua Lý Nhân Tông?

– Phải chăng những chi tiết kỳ dị ở bức tượng “cụ rồng” là biểu hiện tâm trạng của đức vua. Làm hại Thái sư Lê Văn Thịnh chẳng khác gì cắn xé vào thân thể mình?

– Phải chăng “cụ rồng” một bên tai thông, một bên tai điếc hàm ý rằng trong một lúc nào đó nhất thời, đức vua đã nghe những lời xiểm nịnh, dối trá; bỏ qua lời can gián mà hại thầy học đến thân bại danh liệt, gia đình tan nát?

– Phải chăng nhóm “thợ làng Điềng” lên góp công góp của xây dựng đình thờ Thái sư Lê Văn Thịnh ở thôn Bảo Tháp ngàn năm trước là đội “cấm quân” triều đình đóng giả. Bệ hạ đã lệnh cho họ lén chôn bức tượng “cụ rồng” vào đất nhà Thái sư Lê Văn Thịnh, nhờ thời gian nói hộ lòng mình?

– Phải chăng đức vua đã sai truyền khẩu dụ tha bổng cho thái sư Lê Văn Thịnh nhưng lại không dũng cảm xuống chiếu nhận lỗi của mình?…

Sau mỗi câu hỏi phải chăng, thân hình đức vua Lý Nhân Tông cứ cong gập xuống.

Phải chăng…? Ôi! Phải chăng?… Phải chăng?… Phải chăng? Tôi miên man vào những câu hỏi.

Căn phòng bỗng như có giông bão. Tôi tối tăm mặt mũi. Giơ tay che mắt. Lúc sau nhìn sang không thấy vua Lý Nhân Tông đâu. Không lầu gác. Không bóng cung nữ, thái giám, không vườn thượng uyển… Chỗ tôi đang đứng bây giờ là một bãi tha ma rất lớn. Mộ phần nhấp nhô, lạnh lẽo. Rùng mình. Mồ hôi chảy lạnh sống lưng. Tôi nhìn lại nơi các cung nữ vừa múa hát. Chỉ thấy cây cọc ngổn ngang. Mạng nhện chăng đầy. Khí lạnh vây bủa.

Tôi hoảng hốt. Hai bàn tay vỗ đồm độp lên mặt. Đầu lắc thật mạnh. Từ thinh không, giọng đức vua Lý Nhân Tông sang sảng dội xuống:

“LÒNG DÂN LÀ LÒNG TRỜI. TAI, MẮT CỦA DÂN LÀ TAI MẮT CỦA TRỜI. DÂN BIẾT HẾT. DÂN ĐỌC THẤU HẾT. KHÔNG GÌ GIẤU ĐƯỢC NGƯỜI DÂN!”.

Cơn gió ù ù bốc ngược. Tôi lơ lửng giữa không trung. Mưa vẫn xối xả. Lá cây đập ràn rạt. Va mạnh. Va rất mạnh. Tôi bừng tỉnh, hóa ra vẫn đang đứng trước ban thờ tổ tiên. Bìa tập bản thảo tiểu thuyết “THIÊN THU HUYẾT LỆ” như có bàn tay ai gấp lại. Ánh mắt mẹ, cha nhìn tôi dịu hiền khích lệ.

Quay về phòng, tôi viết dòng cuối khép lại thiên tiểu thuyết này: “THÁI SƯ, TRẠNG NGUYÊN KHAI KHOA LÊ VĂN THỊNH BỊ KẺ XẤU VU OAN!”

Để giúp bạn hiểu rõ hơn về nội dung, sau đây là phần chú thích của chương 41. Mời bạn nghe cùng BÚC CÁC:
 

(37, 38) Hai bài thơ của đức vua Lý Nhân Tông

(39). Quốc lão Thái úy Lý Thường Kiệt (1019 -1105), qua đời thọ 86 tuổi. Vua Lý Nhân Tông, truy phong Lý Thường Kiệt chức “Nhập nội điện đô tri kiêm hiệu thái úy bình chương quân quốc trọng sự Việt quốc công, thực ấp 1 vạn hộ”. (ĐVSKTT, tr 256).

Khởi viết 01 tháng 01 năm 2022

Hoàn thành ngày 31 tháng 5 năm 2022.