Hôm quý ông đến Đền Đô vào ngày 15 tháng Giêng chính là ngày húy kỵ của ta. Quý ông đặt phần sách đã viết lên ban thờ, ta có mặt ở đó. Ta đã đọc lời “tựa”. Sau nhiều ngày suy nghĩ ta quyết định mời quý ông nhà văn tới cuộc hội ngộ này. Vậy quý ông muốn hỏi gì, hôm nay ta sẽ bộc bạch hết với quý ông. Không giấu gì cả.
– Đa tạ đức vua. Thật là một vinh hạnh lớn cho kẻ hậu sinh.
– Chính ta mới phải cảm tạ quý ông. Đã một ngàn năm nay, bao nhiêu sử sách viết về triều đại của ta có đúng có sai. Người đời bàn luận về ta có đúng có sai. Cũng như các triều đại khác, đúng hay sai mãi mãi là một phần của lịch sử. Mãi mãi là ẩn số của lịch sử. Ta không thể cải chính. Nhưng hôm nay ta sẽ kể hết cho quý ông nhà văn nghe. Vậy cần hỏi gì xảy ra trong triều đại ta trị vì, quý ông nhà văn cứ hỏi.
– Tâu đức vua, cho đến nay dẫu đã trải ngàn năm rồi mà người dân vẫn nhắc tới bệ hạ với lòng tôn kính sâu sắc.
Vua Lý Nhân Tông hỏi:
– Thế ư, họ nói gì về ta, thưa quý ông:
– Lịch sử tôn vinh ngài là đấng quân vương nối được nghiệp ông cha, xứng danh “Bách niên thịnh thế”. Đức vua để lại những kỳ tích trong cai trị. Miếu hiệu của bệ hạ có bốn chữ “Thánh văn thánh vũ” là đúng với những gì lòng dân nghĩ về đức vua. Kể ra thì rất nhiều, kẻ hậu sinh chỉ xin nêu hai võ công, văn trị lớn nhất. Bệ hạ là vị vua mở đầu chế độ khoa cử của Đại Việt. Khởi nguồn nền giáo dục và văn học đất nước. Dưới triều đại của bệ hạ, quân dân nhà Lý đã hai lần phá tan âm mưu xâm lược nước ta của nhà Tống. Đánh cho chúng tan tác trên sông Như Nguyệt. Triều đình Bắc Tống rồi Nam Tống không bao giờ dám đem quân xâm chiếm Đại Việt ta nữa. Rất ít vị vua làm được như bệ hạ.
– Đa tạ quý ông nhà văn đã dành những lời quá ư tốt đẹp cho ta. Nhưng tiên đế băng sớm, ta kế ngôi từ lúc tuổi đời còn nhỏ, chưa hiểu biết gì. Những việc mà triều đại ta làm được thực tình đều do công lao của các bậc công thần phò tá.
– Muôn tâu đức vua, kẻ hậu sinh biết trong triều đại bệ hạ trị vì có tới bốn nhân vật kiệt hiệt như Hoàng Thái phi nhiếp chính Ỷ Lan, Thái úy Lý Thường Kiệt, Thái sư Lý Đạo Thành và Thái sư, Trạng nguyên khai khoa Lê Văn Thịnh. Đó là điều cực hiếm. Khó triều đại nào quy tụ được những bậc thiên tài cùng phò trợ như vậy. Đó là nhờ hồng phúc nhà Lý nhưng cũng nhờ vào đức độ của bệ hạ.
Vua Lý Nhân Tông giơ tay ngăn tôi lại:
– Những điều quý ông nhà văn nhắc tới ta phải nói cho rõ. Kỳ thi “Minh kinh bác học và Nho học tam trường” tổ chức khi ta mới lên chín tuổi. Công lao ấy thuộc về Thái sư Quốc lão Lý Đạo Thành. Trận đánh giặc Tống trên sông Như Nguyệt, ta mới mười một tuổi. Võ công chống ngoại xâm đánh bắc, dẹp nam đều nhờ ở tài trí và uy dũng hơn người của Thái úy Quốc lão Lý Thường Kiệt. Mẹ ta gánh đỡ tất cả những rối ren phức tạp trong nội trị cho đến khi ta mười tám tuổi. Vì thế ta nói mình không có công lao gì lớn là vậy.
– Đức vua thật xứng với lòng tôn kính của hậu thế. Sự khiêm nhường và lão thực càng làm cho bệ hạ vĩ đại và đáng yêu hơn.
Đức vua lại xua tay. Biết đức vua sùng đạo Phật tôi thưa:
– Muôn tâu đức vua, cả ba vị nhân tài xuất chúng đó ngày nay vẫn được người đời tôn thờ. Nhưng kẻ hậu sinh thấy Hoàng Thái phi Ỷ Lan, Thái úy Lý Thường Kiệt tới Thái sư Lý Đạo Thành, Thái sư, Trạng nguyên Lê Văn Thịnh ai cũng gặp bất hạnh cả. Phải chăng bởi họ quá tài giỏi nên tai ương, rủi ro cũng luôn kề cận?
Vua Lý Nhân Tông ngẫm ngợi rồi bảo:
– Điều mà quý ông nhà văn hỏi theo ta đều nằm trong lời Phật dạy: “Đời là bể khổ. Sinh, lão, bệnh, tử đều khổ. Đau khổ là vô tận”. Những người mệnh lớn càng gặp đau khổ lớn. Như mẹ ta gánh nặng giang san. Trọng trách nhiếp chính đặt lên vai người khi mới hai mươi lăm tuổi. Đức tiên đế cha ta mất đột ngột, mẹ ta phải chèo chống giữ yên nội trị, phòng chống ngoại xâm trong cái mớ hỗn loạn, thật giả, sáng tối lẫn lộn. Phải quyết định những điều quá sức với một người đàn bà chưa đến ba mươi. Tới tận bây giờ mẹ ta vẫn mang cái tiếng ác chôn sống mẹ đích Thượng Dương và 76 cung nữ, cho dù lỗi không hoàn toàn thuộc về bà. Thái sư Lý Đạo Thành cũng gặp không ít thăng trầm, bị biếm chức đưa vào châu Hoan và chịu điều tiếng thị phi.
Vua Lý Nhân Tông ngừng lời. Tôi vội thưa:
– Muôn tâu đức vua, triều đại của ngài có một nhân vật rất lớn ôm chứa nhiều bí ẩn mà ngày nay hậu thế vẫn đi tìm câu trả lời.
– Ai? Những câu hỏi nào vậy?
– Muôn tâu đức vua, tại sao Thái úy Lý Thường Kiệt lại trở thành quan hoạn khi ông ta đã có vợ? Những lần theo tiên đế đi đánh giặc và cả sau này, ông đều tìm đến các chùa? Và một chi tiết rất nhỏ nhưng khá kỳ lạ, mỗi lúc buồn vui, trước gian nan thử thách Lý Thái úy luôn xoa tay lên ngực trái?
Đức vua Lý Nhân Tông ngỡ ngàng rồi ngài lại cười vang:
– Đúng là hậu thế không bỏ sót chuyện gì. Không bỏ qua một chi tiết nào. Ta không thể trả lời nổi mọi câu hỏi của người đời. Bởi chính ta cũng không biết hết những gì diễn ra trong cuộc sống của ông ấy. Quốc lão Thái úy Lý Thường Kiệt xét về tuổi đời và vai vế thuộc hàng bề trên của ta. Lý do Thái úy “tịnh thân” xảy ra từ thời tiên đế ông nội ta. Đúng là Thái úy “tịnh thân” khi đã hai mươi ba tuổi và có vợ mấy năm rồi. Ta nghe nói vì chuyện đó mà vợ quốc lão xuống tóc đi tu. Tới vùng nào có chùa, Quốc lão Thái úy cũng vào chùa thắp hương. Phải chăng là để tìm vợ? Ta đoán thế thôi. Đó là lý do thuyết phục nhất về việc Quốc lão Thái úy Lý Thường Kiệt chăm đến các chùa.