41.1


Tôi viết dòng cuối cùng tiểu thuyết “Thiên thu huyết lệ” đúng vào ngày giỗ cha. Đem tập bản thảo đặt lên ban thờ, thắp hương kính cáo hai bậc sinh thành. Tâm trạng chìm đắm. Ngoài kia, bầu trời tối đen, gió quật đùng đùng. Lá cây rũ mình phành phạch. Một quầng sáng chói lòa. Bỗng dưng tôi như bị nhấc bổng lên không trung. Mắt nhắm chặt. Khoảnh khắc rất nhanh, trời lặng gió. Mở mắt ra thấy mình đang đứng giữa một gian phòng rộng, bài trí hết sức lộng lẫy, rực rỡ đèn, nến. Sơn son, thếp vàng vô cùng uy nghi. Thì ra tôi đang đứng trong điện Kính Thiên thời nhà Lý. Trước mặt, một người đang ngồi. Dáng bệ vệ, uy vũ. Định thần lại chưa kịp lên tiếng thì giọng trầm ấm cất lên:

– Xin chào quý ông nhà văn.

Giật mình, nhìn gương mặt quen quen. Ồ, tôi đang đứng trước đức vua Lý Nhân Tông. Thấy quen vì tôi đã ngắm nhìn tượng ngài hàng trăm lần trong lúc viết. Tôi luống cuống khoanh tay thưa:

– Muôn tâu đức Hiếu thiên thế đạo thánh văn thần vũ sùng nhân ý nghĩa hiếu từ thuần thành Minh hiếu hoàng đế Lý Nhân Tông.

Đức vua bật cười sang sảng:

– Thật quá đỗi ngạc nhiên. Ngàn năm rồi mà quý ông nhà văn vẫn nhớ cái miếu hiệu dài dằng dặc ấy của ta. Nhưng đây là cuộc trò chuyện của hai người cách nhau ngàn năm. Lễ nghi đã khác lắm, ta đề nghị bỏ hết cách xưng hô rối rắm, bất tiện ấy đi. Ta gọi nhà văn là quý ông. Còn ta đã mang số phận làm vua, có muốn gọi khác đi cũng không được. Vậy quý ông nhà văn cứ gọi ta là đức vua, xưng là hậu sinh. Hãy thoải mái nói hết những gì muốn nói. Trò chuyện một cách bình đẳng. Từ ngữ xưng hô thế nào cho phương tiện là được. Ta hiểu được cả.

– Dạ, kẻ hậu sinh tuân chỉ.

Tuy nói cứng thế nhưng tôi cũng không tránh khỏi cảm giác chờn chợn, nổi gai ốc. Tôi đang nói chuyện với ma. Cho dù đó là một con ma đế vương. Tôi quan sát thật kỹ. Hình như chung quanh thân thể Lý Nhân Tông có viền sáng. Giống như hào quang. Lại giống như ảo ảnh. Ảo ảnh chập chờn trùng khớp với thân thể ngài. Đang phân vân thì đức vua đứng dậy tiến về phía tôi. Người tôi cứng ngắc. Vẻ mặt, cử chỉ của đức vua rất thân thiện. Nhưng tôi không khỏi run. Lý Nhân Tông chìa tay cách tôi một đoạn. Một bàn tay đẹp đẽ. Ngón dài, trắng trẻo nhưng lạnh. Khí lạnh túa ra xung quanh. Đức vua đưa ngang chỉ đường:

– Xin mời quý ông nhà văn đi theo ta. Cuộc hội ngộ đặc biệt này ta muốn mời quý ông thăm vườn thượng uyển. Nơi ấy ngày nhỏ ta cùng Trạng nguyên Lê Văn Thịnh vừa học vừa chơi vui lắm. Ta cũng làm thơ, không dám gọi mình là nhà thơ nhưng nghĩ cuộc nói chuyện giữa hai chúng ta ở giữa hoa lá, cỏ cây sẽ hứng khởi hơn trong cái phòng kín lạnh lẽo tù túng này.

 Vua Lý Nhân Tông có khiếu làm thơ. Ngài là tác giả của nhiều bài thơ trong đó hai thi phẩm khá nổi tiếng được sử sách ghi truyền tới ngày nay. Tôi cúi mình thưa:

– Muôn tâu đức vua. Đúng là dịp ngàn năm có một. Kẻ hậu sinh được đứng trong quang cảnh cung đình hầu chuyện một hoàng đế có tâm hồn thi sĩ. Xin phép cho kẻ hậu sinh đọc lại tuyệt phẩm của bệ hạ mà đến ngày nay mọi người vẫn nhớ.

Vua Lý Nhân Tông vui lắm:

– Thế ư. Quý ông nhà văn đem đến cho ta món quà quý quá. Người đời nhớ đến ta có khi vì bài thơ ấy chứ chưa hẳn ta đã là một ông vua tốt.

– Đức vua thật khiêm nhường. Kẻ hậu sinh nghĩ văn là người. Một áng văn thơ hay, có sức sống lâu bền không thể từ một người bình thường mà viết ra được ạ.

Lý Nhân Tông lại bật cười. Tiếng cười rất sang. Đức vua bảo:

– Trò chuyện với quý ông nhà văn vui thật. Vậy người đời sau nhớ đến bài thơ nào của ta vậy?

Tôi hắng giọng:

Vạn Hạnh dung tam tế,

Chân phù cổ sấm thi.

Hương quan danh cổ pháp,

Trụ tích trấn vương kỳ (37).

 Đức vua vỗ tay:

– Đó là bài ta cảm tác về tài năng của thiền sư Vạn Hạnh.

– Tâu đức vua. Hai bài ca ngợi hai thiền sư nổi tiếng đều hay và dễ nhớ. Bài về thiền sư Sùng Phạm lại có nét riêng: 

Sùng Phạm cư Nam quốc,

Tâm không cập đệ qui.

Nhĩ trường hồi thụy chất,

Pháp pháp tận ly vi (38).

Đức vua phe phảy chiếc quạt lụa:

– Ta viết cũng nhiều đấy. Nhưng đời sau chỉ nhớ được hai bải thơ ấy. Thế cũng là quý lắm rồi. Nào xin mời quý ông đi tiếp.

Tôi bước theo nhà vua, giữ khoảng cách vừa đủ. Cái bóng ma xanh xanh sau lưng vua nhắc tôi không nên đến quá gần. May tôi là người cứng vía. Từ điện Kính Thiên ra vườn thượng uyển đi qua một khoảng đất rộng phía sau. Ở rìa đất ấy tòa ngang dẫy dọc. Đập vào mắt tôi là những căn nhà như cung điện thu nhỏ. Mỗi căn đứng giữa một mảnh vườn có rào thưa. Cửa đóng im ỉm. Mầu sơn giống nhau: đỏ, xanh, tím, trắng. Cổ kính, sang trọng. Quanh tường nhà là các luống hoa. Rất nhiều hoa. Hoa khác loại nhưng cách trồng giống nhau. Chăm sóc tỉ mỉ. Không cây nào cao hơn bệ cửa sổ. Ranh giới giữa các tiểu cung điện là hàng râm bụt ngang cằm, cắt tỉa gọn gàng, phẳng phiu. Thì ra đây là “Tam cung lục viện”, nơi ở của các bà hoàng hậu, hoàng phi, cung tần mĩ nữ. Tôi ngẩn ngơ. Có năm ngôi cung điện như thế đứng riêng. Đức vua Lý Nhân Tông thấy vậy dừng lại chờ. Ngài bảo:

– Hẳn quý ông nhà văn tò mò muốn biết chủ nhân các căn nhà này?

– Muôn tâu đức vua. Lần đầu kẻ hậu sinh được bước chân vào cung cấm. Nơi thâm nghiêm bậc nhất mà chỉ đức vua và hoàng tộc mới được ở. Cái gì cũng thấy lạ lẫm, tò mò.

Vua Lý Nhân Tông mở lòng:

– Quý ông nhà văn đang đứng trước cung điện của năm người vợ ta đấy – Vua gập chiếc quạt lụa mầu vàng lại giới thiệu – cung đầu tiên kia là nơi ở của Thánh Cực hoàng hậu. Kế đến Chiêu Thánh hoàng hậu. Căn thứ ba mà quý ông đang đứng cạnh là của Lan Anh hoàng hậu. Thứ tư, Khâm Thiên hoàng hậu. Tòa cuối cùng của Chấn Bảo hoàng hậu.

Tôi ngỡ ngàng quá đỗi. Quên mất mình đang ở cõi âm. Trong lúc đọc tìm tư liệu về cuộc đời vua Lý Nhân Tông, tôi biết đức ngài đây lập nên những kỷ lục: “Là vị vua ngồi trên ngai vàng lâu nhất trong các hoàng đế phong kiến Việt Nam: 56 năm. Ngài cũng là vị vua lập rất nhiều hoàng hậu”. Thường các hoàng đế chỉ lập một, hai hoặc ba hoàng hậu. Còn lại là phi, tần. Càng ngạc nhiên khi vua đọc tên người vợ thứ ba “Lan Anh hoàng hậu”. Trước đó tôi cứ nghĩ khéo mà các nhà làm sử biên chép nhầm. Lan Anh là cái tên quá hiện đại. Quá tân tiến so với tên phụ nữ ngàn năm trước. Vậy mà lúc này tôi đang đứng trước cung của bà hoàng hậu có cái tên Lan Anh ấy đây. Tôi mủm mỉm cười nghĩ: “Năm hoàng hậu, hàng trăm phi, tần, chưa kể hàng ngàn cung nữ (nếu đức vua thích) chắc chắn đều vô cùng xinh đẹp, trẻ trung, tươi tốt vậy mà không ai sinh nổi cho đức vua một hoàng nam kế ngôi. Tôi lén nhìn vua Lý Nhân Tông. Ngài khá vạm vỡ, khỏe mạnh. Tạo hóa thật trớ trêu, bí ẩn. Dường như đoán ra ý nghĩ của tôi, đức vua phất quạt bước tiếp.

Vườn thượng uyển đây rồi. Gọi là vườn nhưng hầu hết các loại hoa đều trồng trong bồn, trong chậu. Cây ăn trái, cây lâu niên ở ven vườn. Đường ngang dọc tựa bàn cờ, xây nghiêng bằng gạch chỉ già. Thư thoảng lại thấy lầu ngũ giác bên cạnh hồ nước. Những cây cầu bằng gỗ sơn son cong cong in bóng. Hồ trồng sen. Hồ nuôi cá cảnh. Tôi giật mình nhận ra xung quanh nhiều bóng áo thụng đen, lúm khúm, lẩn khuất. Góc nào cũng thấy. Dáng hình béo, mập. Mặt trắng, không râu. Mũ sụp kín tai. Những cái bóng ấy chạy đi chạy lại. Ngang qua hơi lạnh phả ra ghê ghê.

Trước mặt là một tòa lầu rất lớn. Đức vua bước lên. Tôi bám theo ngài. Bên trong có nhiều người. Đúng hơn là nhiều bóng người. Ở nơi trang trọng đối diện sàn gỗ rộng, đặt sẵn hai cái ghế. Cái mầu vàng to như ngai vua. Cách một sải tay là cái ghế có tựa, sơn then mầu cánh gián. Đức vua ngự trên cái ghế vàng. Ngài chỉ quạt ý mời tôi ngồi cái kia.

Vừa buông mình, tôi giật bắn người. Tiếng đàn, sáo cất lên vang lừng. Mặt sàn gỗ dâng lên làn khói mỏng trắng đục. Khói là là như sương đặc. Đoàn cung nữ xiêm y rực rỡ muôn mầu bay trên đó. Đúng là bay trên đó. Không nhìn thấy chân. Óc tôi mụ mị. Hình như tôi gặp cảnh này ở đâu. Giàn tiên nữ trên cung Quảng trong bộ phim thần thoại nào đó. Các nàng lướt qua trước mặt tôi. Mùi thơm ngào ngạt. Vóc dáng thật kiều diễm. Kiều diễm nhưng lạnh lùng, cách bức. Tôi cố giương mắt mà không thấy mặt ai thật rõ ràng.

Lúc sau tiếng nhạc dứt. Xung quanh lại sạch tươm. Vắng lặng. Chỉ còn đức vua Lý Nhân Tông và tôi. Đức vua mỉm cười nói tiếp câu chuyện dở dang. Ngài hỏi:

– Trước khi vào câu chuyện, xin hỏi quý ông nhà văn xuân thu năm nay bao nhiêu. Sinh năm nào? Cầm tinh con gì?

– Tâu đức vua, kẻ hậu sinh đã vào tuổi bảy mươi lăm. Sinh năm Đinh Hợi. Cầm tinh con lợn. Chỉ kém bệ hạ 881 tuổi thôi ạ?

Vua Lý Nhân Tông cười lớn. Cái cười rất khoáng đạt, dễ lây niềm vui cho người khác. Đức vua bảo:

– Thưa quý ông, thực ra cuộc hội ngộ này đối với ta không bất ngờ. Gần hai tháng trước quý ông đã tới Đền Đô thắp hương nói ý định viết cuốn sách về thời đại ta trị vì.

– Tâu đức vua. Kẻ hậu sinh quá ngỡ ngàng. Từ đâu mà người biết ạ?

Hôm quý ông đến Đền Đô vào ngày 15 tháng Giêng chính là ngày húy kỵ của ta. Quý ông đặt phần sách đã viết lên ban thờ, ta có mặt ở đó. Ta đã đọc lời “tựa”. Sau nhiều ngày suy nghĩ ta quyết định mời quý ông nhà văn tới cuộc hội ngộ này. Vậy quý ông muốn hỏi gì, hôm nay ta sẽ bộc bạch hết với quý ông. Không giấu gì cả. 

 – Đa tạ đức vua. Thật là một vinh hạnh lớn cho kẻ hậu sinh.

– Chính ta mới phải cảm tạ quý ông. Đã một ngàn năm nay, bao nhiêu sử

sách viết về triều đại của ta có đúng có sai. Người đời bàn luận về ta có đúng có sai. Cũng như các triều đại khác, đúng hay sai mãi mãi là một phần của lịch sử. Mãi mãi là ẩn số của lịch sử. Ta không thể cải chính. Nhưng hôm nay ta sẽ kể hết cho quý ông nhà văn nghe. Vậy cần hỏi gì xảy ra trong triều đại ta trị vì, quý ông nhà văn cứ hỏi.

– Tâu đức vua, cho đến nay dẫu đã trải ngàn năm rồi mà người dân vẫn nhắc tới bệ hạ với lòng tôn kính sâu sắc.

Vua Lý Nhân Tông hỏi:

– Thế ư, họ nói gì về ta, thưa quý ông:

– Lịch sử tôn vinh ngài là đấng quân vương nối được nghiệp ông cha, xứng danh “Bách niên thịnh thế”. Đức vua để lại những kỳ tích trong cai trị. Miếu hiệu của bệ hạ có bốn chữ “Thánh văn thánh vũ” là đúng với những gì lòng dân nghĩ về đức vua. Kể ra thì rất nhiều, kẻ hậu sinh chỉ xin nêu hai võ công, văn trị lớn nhất. Bệ hạ là vị vua mở đầu chế độ khoa cử của Đại Việt. Khởi nguồn nền giáo dục và văn học đất nước. Dưới triều đại của bệ hạ, quân dân nhà Lý đã hai lần phá tan âm mưu xâm lược nước ta của nhà Tống. Đánh cho chúng tan tác trên sông Như Nguyệt. Triều đình Bắc Tống rồi Nam Tống không bao giờ dám đem quân xâm chiếm Đại Việt ta nữa. Rất ít vị vua làm được như bệ hạ.

– Đa tạ quý ông nhà văn đã dành những lời quá ư tốt đẹp cho ta. Nhưng tiên đế băng sớm, ta kế ngôi từ lúc tuổi đời còn nhỏ, chưa hiểu biết gì. Những việc mà triều đại ta làm được thực tình đều do công lao của các bậc công thần phò tá.

– Muôn tâu đức vua, kẻ hậu sinh biết trong triều đại bệ hạ trị vì có tới bốn nhân vật kiệt hiệt như Hoàng Thái phi nhiếp chính Ỷ Lan, Thái úy Lý Thường Kiệt, Thái sư Lý Đạo Thành và Thái sư, Trạng nguyên khai khoa Lê Văn Thịnh. Đó là điều cực hiếm. Khó triều đại nào quy tụ được những bậc thiên tài cùng phò trợ như vậy. Đó là nhờ hồng phúc nhà Lý nhưng cũng nhờ vào đức độ của bệ hạ.

Vua Lý Nhân Tông giơ tay ngăn tôi lại:

– Những điều quý ông nhà văn nhắc tới ta phải nói cho rõ. Kỳ thi “Minh kinh bác học và Nho học tam trường” tổ chức khi ta mới lên chín tuổi. Công lao ấy thuộc về Thái sư Quốc lão Lý Đạo Thành. Trận đánh giặc Tống trên sông Như Nguyệt, ta mới mười một tuổi. Võ công chống ngoại xâm đánh bắc, dẹp nam đều nhờ ở tài trí và uy dũng hơn người của Thái úy Quốc lão Lý Thường Kiệt. Mẹ ta gánh đỡ tất cả những rối ren phức tạp trong nội trị cho đến khi ta mười tám tuổi. Vì thế ta nói mình không có công lao gì lớn là vậy.

– Đức vua thật xứng với lòng tôn kính của hậu thế. Sự khiêm nhường và lão thực càng làm cho bệ hạ vĩ đại và đáng yêu hơn.

Đức vua lại xua tay. Biết đức vua sùng đạo Phật tôi thưa:

 – Muôn tâu đức vua, cả ba vị nhân tài xuất chúng đó ngày nay vẫn được người đời tôn thờ. Nhưng kẻ hậu sinh thấy Hoàng Thái phi Ỷ Lan, Thái úy Lý Thường Kiệt tới Thái sư Lý Đạo Thành, Thái sư, Trạng nguyên Lê Văn Thịnh ai cũng gặp bất hạnh cả. Phải chăng bởi họ quá tài giỏi nên tai ương, rủi ro cũng luôn kề cận?

Vua Lý Nhân Tông ngẫm ngợi rồi bảo:

– Điều mà quý ông nhà văn hỏi theo ta đều nằm trong lời Phật dạy: “Đời là bể khổ. Sinh, lão, bệnh, tử đều khổ. Đau khổ là vô tận”. Những người mệnh lớn càng gặp đau khổ lớn. Như mẹ ta gánh nặng giang san. Trọng trách nhiếp chính đặt lên vai người khi mới hai mươi lăm tuổi. Đức tiên đế cha ta mất đột ngột, mẹ ta phải chèo chống giữ yên nội trị, phòng chống ngoại xâm trong cái mớ hỗn loạn, thật giả, sáng tối lẫn lộn. Phải quyết định những điều quá sức với một người đàn bà chưa đến ba mươi. Tới tận bây giờ mẹ ta vẫn mang cái tiếng ác chôn sống mẹ đích Thượng Dương và 76 cung nữ, cho dù lỗi không hoàn toàn thuộc về bà. Thái sư Lý Đạo Thành cũng gặp không ít thăng trầm, bị biếm chức đưa vào châu Hoan và chịu điều tiếng thị phi.

Vua Lý Nhân Tông ngừng lời. Tôi vội thưa:

– Muôn tâu đức vua, triều đại của ngài có một nhân vật rất lớn ôm chứa nhiều bí ẩn mà ngày nay hậu thế vẫn đi tìm câu trả lời.

– Ai? Những câu hỏi nào vậy?

– Muôn tâu đức vua, tại sao Thái úy Lý Thường Kiệt lại trở thành quan hoạn khi ông ta đã có vợ? Những lần theo tiên đế đi đánh giặc và cả sau này, ông đều tìm đến các chùa? Và một chi tiết rất nhỏ nhưng khá kỳ lạ, mỗi lúc buồn vui, trước gian nan thử thách Lý Thái úy luôn xoa tay lên ngực trái?

Đức vua Lý Nhân Tông ngỡ ngàng rồi ngài lại cười vang:

– Đúng là hậu thế không bỏ sót chuyện gì. Không bỏ qua một chi tiết nào. Ta không thể trả lời nổi mọi câu hỏi của người đời. Bởi chính ta cũng không biết hết những gì diễn ra trong cuộc sống của ông ấy. Quốc lão Thái úy Lý Thường Kiệt xét về tuổi đời và vai vế thuộc hàng bề trên của ta. Lý do Thái úy “tịnh thân” xảy ra từ thời tiên đế ông nội ta. Đúng là Thái úy “tịnh thân” khi đã hai mươi ba tuổi và có vợ mấy năm rồi. Ta nghe nói vì chuyện đó mà vợ quốc lão xuống tóc đi tu. Tới vùng nào có chùa, Quốc lão Thái úy cũng vào chùa thắp hương. Phải chăng là để tìm vợ? Ta đoán thế thôi. Đó là lý do thuyết phục nhất về việc Quốc lão Thái úy Lý Thường Kiệt chăm đến các chùa.