Thái sư, trạng nguyên Lê Văn Thịnh mất trên đường về quê nhanh chóng lan tới kinh thành Thăng Long. Triều đình nhà Lý xôn xao. Quần thần đặt ra bao nhiêu câu hỏi. Họ nói chuyện đó sau lưng đức vua và Hoàng Thái phi Ỷ Lan. Hết thảy đều đau xót, tiếc thương bậc đại khoa tài năng mệnh bạc.
Hà Ngô Tự, Nguyễn Trực Nhẫn, Vũ Uẩn và Nguyễn Chính Định, những người cùng thi đỗ với Lê Văn Thịnh trong kỳ thi Minh kinh bác học và Nho học tam trường hẹn nhau ở nhà Thái phó Hà Ngô Tự. Năm ấy, Hà Ngô Tự đã được thăng Thái phó. Nguyễn Trực Nhẫn giữ chức Đô thống đại nguyên soái. Họ làm một lễ tưởng niệm Thái sư Lê Văn Thịnh. Đứng trước ban thờ, trong làn khói hương cuốn quýt bao nhiêu câu hỏi đặt ra mà không trả lời nổi:
– Sao quan Thái sư về quê một mình?
– Doãn phu nhân đâu?
– Lúc ngài mất có ai bên cạnh?
– Mộ phần quan Thái sư hiện giờ ở đâu?
… Sau những biến cố triều chính, Hà Ngô Tự và Nguyễn Trực Nhẫn đã nhiều lần có ý định treo mũ từ quan. Lần trước vì vận mệnh đất nước đang bị đe dọa, Quốc lão Thái úy khuyên họ tạm gác lại. Sau sự việc này, ý nghĩ đó lại trỗi dậy. Hai thuộc cấp của Võ ban bộc bạch với quốc lão Thái úy. Hà Ngô Tự thưa:
– Kính bẩm Quốc lão đại nhân, đất nước đã tai qua nạn khỏi, hạ quan muốn xin về quê Bảo Tháp mở lớp bảo học nối cái chí của quan Thái sư và thay ngài hương khói cho song thân, cũng là thày học của hạ quan. Kính mong quốc lão ủng hộ.
Nguyễn Trực Nhẫn bộc bạch:
– Kính bẩm Quốc lão đại nhân, từ khi bước chân vào chốn quan trường, hạ quan được may mắn theo hầu dưới trướng Quốc lão. Học được rất nhiều ở phẩm hạnh, đức độ của Quốc lão. Trong suy nghĩ, hạ quan luôn coi Quốc lão như một người cha. Là người học chữ thánh hiền, cũng như quan Thái sư, trạng nguyên khai khoa Lê Văn Thịnh và quan Thái phó Hà Ngô Tự hạ quan cũng muốn dành những năm tháng cuối đời đem cái chữ truyền dạy lại cho con trẻ.
Nghe hai người bạn cùng quê thân thiết của Lê Văn Thịnh giãi bầy, Quốc lão Thái úy Lý Thường Kiệt nhìn họ đầy thiện cảm. Ông biết những lời họ nói là chân thành. Nếu là ông ở tuổi ấy, chắc cũng lựa chọn như vậy. Nhưng lúc này sau những biến động quá lớn, cung đình nhà Lý đang rất xộc xệch. Cả một ổ do thám nhà Tống cài vào nắm những vị trí trọng yếu nhất. Có tiếng nói ảnh hưởng đến nhà vua nhất. Đất nước tuy đã bình an, song những người như Hà Ngô Tự, Nguyễn Trực Nhẫn, Vũ Uẩn… treo mũ từ quan thì thực sự là cú sốc nặng với đức vua. Việc triều chính ai làm? Ai chung vai với ông gánh vác giữ cho xã tắc vững vàng? Quốc lão Thái úy hiểu tâm trạng của các bậc đại Nho đỗ đạt như họ. Tiết tháo. Liêm chính và cả sự cao ngạo ngầm. Lý Thường Kiệt biết lúc này đem lời lẽ ra động viên, khuyên bảo chắc họ không nghe. Ông chỉ nói:
– Ta thấu hiểu tâm sự của hai vị. Ý nguyện từ quan đem cái chữ truyền dạy cho người sau thật đáng quý, đáng trọng. Nhưng Thái sư Lê Văn Thịnh bỏ lại bao việc lớn. Ai sẽ làm thay? Các vị là những người bạn thân thiết nhất của quan Thái sư Lê Văn Thịnh. Lại là đồng hương, đồng môn. Quan Thái sư dẫu bị hàm oan, thân tội tù vẫn không một lời oán trách đức vua. Vẫn đau đáu nghĩ tới làm sao cho đất nước an bình, chúng dân bớt khổ. Ta biết khuyên hai vị gì bây giờ. Ta cảm phục tấm lòng cùng kế sách an dân của quan Thái sư mà nói thế. Thiết nghĩ người học chữ thánh hiền không chỉ phải biết giữ lễ, giữ đạo, tỏ cái sự liêm chính, tiết tháo của mình mà còn phải dấn thân vì xã tắc và muôn dân. Hẳn ở trên cao xanh kia quan Thái sư cũng như ta vẫn muốn hai vị thay ông ấy gánh vác việc lớn nước nhà.
Hà Ngô Tự và Nguyễn Trực Nhẫn không ngờ Quốc lão Lý Thường Kiệt lại thông tuệ và khôn khéo thế. Một bên là ý nguyện cá nhân. Một bên là trọng trách với dân với nước. Là người học hành đỗ đạt, họ hiểu sự nặng nhẹ thế nào. Vậy là một lần nữa ý định từ quan của Hà Ngô Tự và Nguyễn Trực Nhẫn thất bại.
Một hôm Thái phó Hà Ngô Tự nói với Nguyễn Trực Nhẫn và Vũ Uẩn:
– Lúc này đệ không thể đi được. Cậy nhờ các huynh hai việc. Huynh Vũ Uẩn cho người tìm gia đình em Lê Hoàng Mai. Huynh Nguyễn Trực Nhẫn lên “Trại đầu Thao Giang” một chuyến nữa. Chắc hẳn trên đó có nhiều điều giải thích được những băn khoăn mà chúng ta đang muốn biết. Có thể Doãn phu nhân vì lý do nào đó còn ở lại Thu Cúc.
Nguyễn Trực Nhẫn bảo:
– Đệ sẽ lên ngay.
Hà Ngô Tự buồn rầu:
– Vậy là huynh Lê Văn Thịnh sớm bỏ chúng ta mà đi. Lòng đệ đau xót lắm. Chốn quan trường này quá mỏi mệt. Nhưng Quốc lão đã khuyên vậy. Công việc mà Thái sư để lại, chúng ta phải gánh vác.
…
Đô thống đại nguyên soái Nguyễn Trực Nhẫn ngược “Trại đầu Thao Giang”. Khiêm Tản lại đưa Nguyễn Trực Nhẫn lên Thu Cúc. Tin ông lang Thịnh mất khi chưa về đến quê làm cả bản dân tộc Mường chìm trong tang thương, đau xót. Họ giữ Nguyễn Trực Nhẫn và Khiêm Tản ở lại. Người dân bản Thu Cúc dùng gỗ thơm tạc hình quan thái sư Lê Văn Thịnh. Cả bản đội khăn tang. Một lễ tang rất trang trọng. “Thi hài” ông lang Thịnh, thày giáo Thịnh, được rước ra chôn cạnh mẹ con nàng Doãn. Dân bản dựng một ngôi nhà sàn nhỏ giống ngôi nhà vợ chồng ông lang Thịnh đã ở trên ngôi mộ. Vậy là cả nhà ông lang Thịnh vẫn ở với bản Thu Cúc
Chuyến đi của Vũ Uẩn không có kết quả. Những tin tức ít ỏi của người dân làng chài thuộc châu Tô Mậu không giúp họ tìm được gia đình em Mai. Họ chỉ biết có đôi vợ chồng trẻ cùng đứa con trai đến làng chài tá túc chưa đầy một tháng lại rời đi. Từ đó họ không biết gì thêm.
Mấy năm liền từ Đinh Sửu (1097) đến Nhâm Ngọ (1102), ở kinh thành Thăng Long và nhiều lộ, phủ liên tiếp xảy ra điềm lạ. Tháng 8 Mậu Dần, nhà cửa tự dưng rung chuyển ầm ầm. Đồ đạc trong các nhà vật nhẹ thì bay lơ lửng. Đồ nặng thì nghiêng đổ. Người dân nháo nhác kinh sợ chưa biết vì sao. Tiếng đồn thổi lan khắp. Người ta cho rằng chắc là có oan khiên gì lớn lắm thấu đến trời xanh. Chưa hết chuyện mặt đất chao đảo thì cuối năm lại xuất hiện một ngôi tướng tinh rất kỳ quái. Giữa đêm ngôi sao lớn cháy rừng rực, hình dáng như cái chổi sể kéo theo đuôi lửa dài bay ngang qua kinh thành Thăng Long trông rất kinh dị. Đầu năm Kỷ Mão (1099), dân tình hò nhau đi xem rồng vàng xuất hiện. Một áng mây hình rồng từ trên trời sà xuống cây mai lớn mọc ven hồ Đâm Đàm. Sang năm Canh Thìn (1100) lộ Thái Bình, Lộ Hải Ninh và mấy phủ duyên hải cấp báo bệnh dịch tả tràn lan làm chết nhiều người. Nhâm Ngọ (1102), nước từ ba con sông lớn bao quanh kinh thành Thăng Long dâng cao bất ngờ. Tuy không làm vỡ đê nhưng hoa mầu trồng trên bãi ngoài đê đều bị thối hỏng cả.
Vua Lý Nhân Tông trăn trở, lo lắng tự hỏi: Đây là điềm gì? Lòng trời giận trách mà gây nên thế chăng? Hay ta đối xử tàn tệ với thầy học mình khiến trời làm ra vậy để cảnh báo? Vua sai đệ nhất Thánh Cực hoàng hậu cùng các hoàng hậu, phi tần trai giới. Xuất kho đem tiền chuộc những người con gái nhà nghèo phải bán mình ở đợ hoặc ép gả cho những người đàn ông góa vợ… Vua cũng giữ mình thanh tịnh trong bảy ngày, thân dẫn quần thần cúng tế xin trời mách bảo cho biết tội lỗi để sửa.
Vua Lý Nhân Tông được tôn vinh là vị vua giỏi, có tâm hồn thi sĩ. Triều đại của ông để lại các thành tựu rất lớn về kinh tế, văn hóa và võ công chống ngoại xâm. Dân gian ca ngợi là thời kỳ “Bách niên thịnh thế”. Tuy vậy có lẽ trang sử đen tối nhất trong triều đại ông trị vì là để lại bản án oan “Trạng nguyên hóa hổ”. Lý Nhân Tông không dám nhận lầm lỗi của mình. Vua ban khẩu dụ tha bổng Thái sư, Trạng nguyên Lê Văn Thịnh. Khẩu dụ của vua chỉ trong cung đình nhà Lý biết. Chức dịch các lộ, phủ vẫn coi Lê Văn Thịnh là kẻ phạm tội tầy đình. Nhiều nơi lo sợ khi ai đó nhắc tới cái tên Thái sư Lê Văn Thịnh.
Năm Nhâm Thìn (1112) bước vào tuổi bốn mươi chín, biết mình không thể có con trai nối dõi, Lý Nhân Tông xuống chiếu nhận Dương Hoán, con Sùng Hiền Hầu Minh Nhân Vương làm con nối. Mùa đông năm Đinh Mùi (1127), vua Lý Nhân Tông đi xem gặt ở hương Ứng Phong. Trở về triều ngài thấy người không khỏe. Vua cho gọi người tới truyền di mệnh:“Trẫm nghe phàm giống sinh vật không giống nào là không chết. Chết là số lớn của trời đất, lẽ của vật đều thế. Thế mà người đời không ai không thích sống mà ghét chết. Chôn cất cho hậu để mất sinh nghiệp, trọng để tang đến tổn hại tính mạng, trẫm không cho là phải. Ta đã ít đức, không lấy gì làm cho trăm họ được yên, đến khi chết đi, lại để cho nhân dân mình mặc áo xô gai, sớm tối khóc lóc, giảm ăn uống, tuyệt cúng tế, làm cho lỗi ta nặng thêm thì thiên hạ bảo ta là người thế nào! Trẫm xót phận tuổi còn nhỏ đã nối ngôi báu, ở trên các vương hầu, lúc nào cũng nghiêm kính sợ hãi, đến nay đã 56 năm rồi. Nhờ anh linh của tổ, tông, được hoàng thiên tin giúp, bốn biển yên bình, biên thùy ít biến, đến chết được dự đứng sau các tiên quân là may lắm rồi, sao còn nên thương khóc? Trẫm từ khi đi xem gặt lúa đến giờ, bỗng nhiên bị ốm, bệnh đã kéo dài, sợ không kịp nói đến việc nối ngôi, mà thái tử Dương Hoán nay đã đủ 12 tuổi, có nhiều đại độ, thông minh thành thực, trung nghiêm kính cẩn, có thể theo điển cũ của trẫm mà lên ngôi hoàng đế, để cho kẻ thơ ấu chịu mệnh trời mà nối mình truyền nghiệp của ta, làm rộng lớn thêm công nghiệp trước. Nhưng cũng nhờ ở quan dân các ngươi một lòng giúp đỡ mới được… Việc tang thì sau ba ngày bỏ áo trở, nên thôi thương khóc, việc chôn thì nên theo Hán Văn Đế, cốt phải kiệm ước, không xây lặng mộ riêng, nên chôn ngay bên cạnh tiên đế. Than ôi! Mặt trời đã xế, tấc bóng khó dừng, một đời từ giã, vĩnh quyết nghìn năm. Các ngươi nên thực lòng kính nghe lời trẫm, báo rõ cho các vương công, tuyên bố ra ngoài”(36).
Bài di chiếu của vua Lý Nhân Tông được coi là một áng văn in đậm đức trị của một hoàng đế thương dân, ảnh hưởng sâu sắc triết lý hư vô nhà Phật.
Ngày Đinh Mão, mùa xuân, tháng Giêng Mậu Thân (1128) vua từ giã cõi trần như một cuộc du ngoạn tất phải đến song vẫn nặng nỗi khắc khoải biệt li. Lý Nhân Tông là vị vua lão thực, khiêm nhường. Ngài nhận mình ít đức, không muốn để tang dài, không xây lăng mộ, không khóc lóc nhớ thương nhiều.
Nhiều năm sau ngày thái sư Lê Văn Thịnh về trời, nắm xương gửi lại xóm Nghè, làng Điềng, người dân thôn Bảo Tháp mới biết tin. Các bậc tiên chỉ họ Lê Văn thôn Bảo Tháp bí mật về làng Điềng thắp nén hương trước mộ quan Thái sư. Cuộc thăm viếng xẩm xủi trong đêm. Mộ ngài vẫn là một nấm đất nằm trơ trọi trên bờ sông Dâu.
Trạng nguyên khai khoa, Thái sư Lê Văn Thịnh đã đem lại tiếng thơm cho quê hương. Người dân không bao giờ tin câu chuyện trạng nguyên hóa hổ hại vua. Dù bị cấm đoán, người dân thôn Bảo Tháp vẫn ngầm góp công của xây một ngôi “đình”. Ngôi “đình” nhỏ, giản dị mang dáng dấp miếu thờ. Họ tôn Thái sư Lê Văn Thịnh làm Phúc Thần. Ghi tạc tài năng và công ơn của ông. Gọi
là xây “đình” để tránh tiếng xây đền thờ kẻ “đại nghịch”. “Che mắt thế gian” thế thôi. Chức dịch trong giáp, trong hương biết cả nhưng làm ngơ. Việc xây cất kéo dài. Sức dân có hạn, mỗi năm công của góp vào một ít. Lại phải nghe ngóng ý trên. Nghe ngóng cả bụng dạ kẻ xấu. “Đình” xây đến đâu lòng người Bảo Tháp vợi dần nỗi thương đau. Từ nay họ có chỗ để bày tỏ nỗi lòng mình với con người tài hoa xuất chúng. Để có nơi chiêu tuyết cho nỗi oan khiên thấu trời mà quan Thái sư, Trạng nguyên phải chịu đựng.
Vào lúc “Đình” sắp xây xong, người dân thôn Bảo Tháp vui mừng được đón một nhóm thợ làng Điềng lên xin góp tiền, góp công chung tay xây dựng nơi tưởng nhớ Thái sư. Dù bất ngờ nhưng người dân Bảo Tháp xúc động lắm. Từ ngày quan Thái sư chọn làng Điềng làm nơi an nghỉ cuối cùng, người dân hai thôn đã coi nhau như anh em rồi.
Chức sắc thôn Bảo Tháp và ông thợ cả làng Điềng chia việc. Nhóm thợ làng Điềng xin làm con đường từ chân núi Thiên Thai lên tới sân “đình”. Con đường trước đây nhỏ hẹp, dốc cao. Nay mở ra rộng rãi thoai thoải thật dễ đi. Nó làm ấm thêm tình người Bảo Tháp, làng Điềng. Trong câu chuyện tâm tình, họ biết dù triều đình cấm đoán, nhưng cấm sao được lòng dân. Cái án “giết vua” mà kẻ xấu gán cho Thái sư, Trạng nguyên Lê Văn Thịnh chưa biết bao giờ được cởi bỏ. Ai là người đứng ra minh oan cho ông? Điều đó không nằm ở chỗ người dân. Nhưng “Quan thì xa bản nha thì gần”. Có nơi thờ tự, lòng người có chỗ neo đậu. Có nơi để bầy tỏ tấm lòng, cầu trời, khấn Phật cởi nỗi oan khiên cho bậc đại quan tài năng, trung trinh một lòng vì nước vì dân.
…
Năm tháng qua đi. Triều đại đổi thay. Vụ án Thái sư, trạng nguyên Lê Văn Thịnh ngày càng đông người dân đòi hỏi phải làm sáng tỏ. Làng Điềng đổi tên thành Đình Tổ. Hàm ý nơi đây thờ vị “Tổ khai khoa”. Ngôi đình lớn bên bờ sông Dâu thờ Thái sư, Trạng nguyên khai khoa Lê Văn Thịnh.
Một lễ hội lớn mang tên Hội Đình Tổ vào ngày 12 tháng Tám. Theo thần phả làng Điềng, đó là ngày quan Trạng vinh quy bái tổ. Từ tinh mơ chức sắc thôn Đình Tổ ra mộ xin rước quan thái sư về đình. Quang cảnh náo nức, hồ hởi. Các trò thi: dân gian diễn ra suốt một ngày. Môn viết chữ, làm câu đối được rất nhiều người tham gia. Họ muốn nối chí quan Trạng. Cũng là để nhắc nhở con cháu noi theo tấm gương ngài, vị “Tổ khai khoa nền học vấn Đại Việt”. Nơi quan thái sư hóa được đặt tên xóm “Nghè” cũng hàm ý tôn vinh “ông Nghè” .
… Lòng dân cũng là ý trời. Tấm lòng của người dân trở thành trang sử muôn đời đúng nhất, vĩnh cửu với thời gian. Nó xóa nhòa những trang sử mờ ám.
Để giúp bạn hiểu rõ hơn về nội dung, sau đây là phần chú thích của chương 39. Mời bạn nghe cùng BÚC CÁC:
(36) Trích theo ĐVSKTT – tr270.