38.1


Năm Tân Tỵ (1100) nhớ công lao của đức Thái tổ Lý Công Uẩn rời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long gần trăm năm trước, Lý Nhân Tông hạ chỉ sửa chùa Diên Hựu, xây cung Thúy Hoa và vài công trình khác (34).

Chùa Diên Hựu, công trình kiến trúc độc đáo như viên ngọc báu giữa kinh thành được xây từ đầu thời Lý. Chùa nằm trên một cây cột trụ lớn mang dáng đóa sen nhà Phật giữa hồ. Vì thế chùa còn được gọi là Liên Hoa đài. Chùa Diên Hựu cách điện Kính Thiên chưa đầy một dặm. Đây là nơi vua và hoàng tộc đến lễ Phật vào các ngày tiết trong tháng.

Nghệ nhân giỏi nhất từ các làng nghề truyền thống của xứ Đoài, phủ Thiên Đức, phủ Ứng Thiên. Lộ Trường Yên… được triệu về kinh. Làng mộc Chàng Sơn có từ thời Hùng Vương. Làng dệt Vạn Phúc hình thành đầu thời Lý. Làng sơn then Châu Phong. Nhóm thợ “bảy làng La, ba làng Mỗ” (35) phủ Ứng Thiên… Kinh đô Thăng Long vào mùa xây dựng, từ hồ Lục Thủy qua Ngọc Hà tới bến Trích Sài bên bờ Dâm Đàm san sát xưởng thợ, kho đá, gạch ngói, xưởng tạo tác.

 Vua Lý Nhân Tông đích thân xem bản vẽ sửa chùa Diên Hựu. Vật liệu sửa chùa lần này bằng loại đá xanh già. Cây cầu bắc từ bờ ra chùa, tường bao, cây hương, chậu hoa… tất cả đều bằng đá. Vua chọn nhóm thợ đá làng Ninh Vân, Hoa Lư, lộ Trường Yên. Ninh Vân làng chế tác đá nổi tiếng từ thời Tiền Hán. Khi ấy xứ Giao Chỉ còn dưới ách cai trị của Trung Quốc. Những công trình kiến trúc đá đẹp nhất ở kinh đô Hoa Lư đều đậm dấu ấn tay nghề tinh xảo của nghệ nhân làng đá Ninh Vân. Trùm thợ đá Ninh Vân là ông phó cả Ninh Trọng Cát. Nhóm thợ đá nghỉ cùng thợ các làng nghề khác ở xóm Thụy Khuê. Trong khuôn viên chùa Diên Hựu chỉ có căn lều của ông phó cả. Ninh Trọng Cát ăn nghỉ ngay tại đây. Cung Thúy Hoa phải hoàn thiện trước, Ninh Trọng Cát cho tất cả thợ ra đó làm. Ông ở lại lều đo vẽ tính toán mọi việc phải làm. Diên Hựu là ngôi chùa nhỏ, có lẽ nhỏ nhất trong các ngôi chùa ở Thăng Long nhưng lại là nơi linh thiêng nhất. Đức vua Lý Nhân Tông, Hoàng Thái phi Ỷ Lan và hoàng tộc chọn chùa này làm nơi thắp hương lễ Phật, cúng tế trời đất

vào dịp tết. Vì thế Ninh Trọng Cát hiểu đức vua và hoàng tộc coi trọng việc sửa chùa Diên Hựu thế nào. Không được sai sót đã đành, mỗi thứ phải thật tinh xảo. Đá lựa loại tốt nhất, già nhất. Mầu sắc đẹp và hợp nhất.

Một đêm mưa to, Ninh Trọng Cát đang tỉ mẩn xem từng bản phác thảo các hạng mục phải tu sửa, bất ngờ có khách. Đã muộn lắm rồi. Gió thổi mạnh. Cửa lều đập phành phạch. Ninh Trọng Cát cầm mẩu dây đay ra buộc cửa thì một người vóc dáng to lớn, đội mưa tiến lại. Ông trùm làng đá thấy lạ. Khách cần gì mà tìm đến ông vào cái lúc khuya khoắt mưa gió này. Khách hạ cái lọng che mưa xuống cạnh cửa. Cởi bỏ áo khoác ngoài. Phong thái đĩnh đạc. Khách cuốn quanh cổ một chiếc khăn lụa mầu vàng. Mép khăn kéo cao che kín miệng. Tay ông ta xách một cái túi khá nặng. Tuy không thấy hết khuôn mặt, nhưng Ninh Trọng Cát cảm nhận đây hẳn là một người rất sang cả, giầu có. Trước khi khép cửa, ông trùm nhìn qua màn mưa còn thấy một chiếc xe ngựa và vài người nữa đứng chờ bên ngoài. Ninh Trọng Cát chưa kịp chào thì khách đã cất lời:

– Chào ông phó cả. Xin ông tha lỗi cho sự đường đột.

– Không dám. Đại nhân hẳn có việc gấp nên đến tìm tôi vào giờ này.

Ninh Trọng Cát hơi ngỡ ngàng trước câu trả lời của khách:

– Cũng không có gì quá gấp. Nhưng không muốn ai thấy tôi đến đây. Ngoài kia là người trong nhà cả. Câu chuyện mà tôi sắp nói đây, xin ông phó cả cứ nghe, đừng hỏi gì nhiều.

Ông trùm làng đá càng tò mò. Có lẽ trong đời làm nghề chưa có vị khách nào lại yêu cầu ông như thế. Khách nói rành rẽ:

– Tôi là một thương gia buôn bán ở kinh thành Thăng Long. Biết ông là nghệ nhân tạc đá hạng nhất làng đá Ninh Vân, lộ Trường Yên nên tôi muốn cậy nhờ ông tạc giúp một pho tượng.

Hóa ra từ lúc khách vào, hai người vẫn đứng nói chuyện, Ninh Trọng Cát nhấc cái đôn mời:

– Xin mời đại nhân ngồi. Chẳng hay ngài muốn tạc tượng gì mà lại không muốn cho người khác biết.

– Chả giấu gì ông phó cả, cuộc đời làm ăn của tôi có hanh thông có trắc trở. Trước đây nhiều năm vì tranh giành một mối buôn mà tôi lỡ đã hại chết một người tốt. Một người mà tôi mang ơn. Ông ấy còn là thầy của tôi trong nghề nữa. Vì một lúc nóng giận nhất thời, lại nghe lời xúi bẩy tôi đã hại chết thầy mình. Làm tan nát cả một gia đình.

Ninh Trọng Cát hiểu ra:

– Vì chuyện đó khiến đại nhân ân hận đau khổ. Ngài muốn tạc tượng người thầy đó để hương khói tạ lỗi chăng?

– Cũng không hẳn như thế. Từ ngày ấy cuộc sống của tôi dường như không còn bình an nữa. Lúc nào tôi cũng bị lỗi lầm hành hạ. Dù không nói ra nhưng tôi phải làm gì đó cho tâm trạng bớt dằn vặt.

– Tôi xin chia sẻ với đại nhân. Nhưng tạc tượng gì đại nhân cũng phải cho tôi mẫu mới làm được.

– Nhất định có mẫu. Mẫu cũng do tôi vẽ thôi. Tuy vụng về nhưng tôi vẽ bằng sự thành tâm chuộc lỗi nên cũng truyền được vào đó tâm trạng mình. Về hình thức, trong quá trình tạo tác nhờ ông phó cả chỉnh sửa giúp cho. Con mắt tinh nghề chắc chắn ông phó cả sẽ giúp tôi toại nguyện.

Ninh Trọng Cát càng thấy quá lạ về cái cách nhờ việc của khách. Ông hỏi:

– Chẳng hay đại nhân muốn tạc bằng loại đá nào. To hay nhỏ. Và tôi phải xem bản phác của đại nhân mới dám có lời bàn.

Khách rút trong người ra một cuộn giấy:

– Ông phó cả có thể thấy khó hiểu về tôi. Nhưng tôi tin rồi ông sẽ cảm thông. Ông phó lựa cho loại đá xanh già. Làm thật cẩn thận. Công sá bao nhiêu tôi cũng thuận.

Nhắc bỏ mấy thứ trên bàn, bản vẽ trải ra, Ninh Trọng Cát tái xanh tái xám mặt mày. Khách liền vỗ về:

– Cũng giống như một pho tượng thờ thôi. Có gì khiến ông hoảng sợ vậy.

– Thưa… tôi… tôi… không dám nhận lời đại nhân.

Đợi cho Ninh Trọng Cát qua cơn xúc động, khách nhỏ nhẹ bảo:

– Như lúc đầu cậy nhờ ông phó cả, tôi có những tâm sự thật khó giãi bầy. Mong ông phó cả tin mà giúp cho. Chuyện này chỉ tôi và ông phó cả biết thôi.

Ninh Trọng Cát chưa hết lo lắng song cảm nhận lời khách là chân tình. Ông ta có những bí mật không thể nói ra. Nhìn vẻ khổ sở của khách, Ninh Trọng Cát biết không nên gạn hỏi gì thêm vào lúc này. Tuy vậy ông trùm làng đá vẫn băn khoăn:

– Nhưng đây là…

Khách lại xua tay:

– Mong ông phó cả cứ tạc giúp. Không có gì sai trái cả. Không có gì hại đến ông phó đâu. Chỉ có điều ông cứ lẳng lặng làm. Một mình ông làm thôi. Bao giờ xong tôi cũng chờ.

Lại một yêu cầu kỳ lạ nữa. Ninh Trọng Cát thưa:

– Quả thực trong đời làm nghề tôi chưa bao giờ nhận một món hàng như thế này. Chưa có vị khách nào yêu cầu như đại nhân. Nhưng tôi lại rất tin vào tâm sự của ngài. Song một mình tôi làm thì sẽ mất nhiều thời gian. Làng thợ thì đông, tôi giấu kín làm sao được.

Khách đứng dậy ngó gian lều rồi bảo:

– Ông phó cả ngăn chỗ này làm hai. Nửa trong kia làm chỗ nghỉ và tạc pho tượng. Như thế ít người tự tiện vào. Việc khiêng chuyển đá, tôi sẽ cho người giúp. Thư thoảng xin ông phó cả cho tôi tới thăm. Không phải để hối thúc mà xem ông phó cả có cần gì không.

– Vậy thì không như đại nhân nói. Sẽ có nhiều người biết chứ.

– Vâng. Đó là con cháu trong nhà tôi cả. Mà cũng khi thật cần mới sai bảo chúng.

Ninh Trọng Cát nói:

– Đại nhân đã tính toán cả, cẩn thận vậy thì tôi cũng xin hết lòng.

– Đa tạ tấm thịnh tình của ông phó cả.

Trùm thợ đá Ninh Trọng Cát và ông khách kỳ dị chụm đầu trên bản vẽ. Khách nói ý tưởng của mình. Chiều dài, chiều cao, bề rộng đã được tính toán chi li. Từng chi tiết, hoa văn, họa tiết biên chép cẩn thận, hết sức rõ ràng. Chỉ đến đâu ông khách giải thích làm sao phải tạc như thế? Thần thái phải như thế?… Ông trùm đá cứ mắt tròn, mắt dẹt. Quá nửa đêm khách mới có vẻ yên lòng:

– Tôi nói hết ý mình rồi. Chờ ông phó cả tạc thành hình rồi mới góp ý thêm. Ông có hỏi gì không?

– Thưa đại nhân, nhìn bản vẽ và nghe lời dặn của ngài tôi đã hình dung ra việc cần làm. Còn hỏi thì muốn nhiều nhưng chắc ngài cũng không thể giải tỏa được nỗi tò mò của tôi, vì thế tôi không hỏi thêm.

Khách gật đầu:

– Thực lòng tôi vô cùng biết ơn ông phó cả về sự thiện tâm này.

Khách mở cái túi ra, đặt lên bàn một thoi vàng lớn. Ninh Trọng Cát chắp tay thưa:

– Đại nhân cho quá nhiều. Quá nhiều. Đây là cả một gia tài. Tôi không dám nhận số vàng lớn thế.

Ông khách giơ tay ngăn Ninh Trọng Cát và nói một câu khiến ông trùm làng đá sững lại:

– Đây không phải tôi trả công thợ hay mua một món hàng. Đây là tấm lòng của đa tạ ông phó cả đã lắng nghe và tin câu chuyện của tôi. Bởi những điều tôi vừa nói nếu không phải người có tấm lòng đồng cảm thì họ rất sợ. Họ sợ sự mù mờ. Sợ bị lừa gạt. Thực tâm tôi rất muốn tâm sự hết với ông phó cả nhưng tôi không thể nói được. Mong ông đặt mình vào tâm trạng của tôi mà truyền qua mỗi nhát đục, đường cưa.

Khách mặc áo, cầm cái lọng. Ninh Trọng Cát định ra theo. Ông ta ngăn lại:

– Xin ông phó cả đừng tiễn.

Ninh Trọng Cát hỏi:

– Bao giờ đại nhân trở lại?

– Tôi sẽ chủ động. Mong ông phó cả hiểu cho thế là được.

Hai người vái nhau. Ông khách nói thêm:

– Món hàng ông sắp tạc không có giá nào mua nổi đâu.

Khách đi rồi Ninh Trọng Cát còn đứng thừ người. Bao năm làm nghề chưa bao giờ gặp vị khách nào toát ra vẻ uy quyền khiến ông cảm phục, nể sợ như thế. Ánh nhìn như thôi miên. Mà tâm trạng lại vô cùng yếu đuối. Một con người như thế dẫu có nhất thời lỗi lầm cũng không phải người ác, người xấu.

Ông trùm đá làng Ninh Vân ngồi rất lâu trước bản vẽ. Câu chuyện của ông khách kỳ dị trong đêm mưa này còn làm Ninh Trọng Cát thao thức rất nhiều đêm nữa. Ông ta là ai? Giầu có tới mức nào? Tội lỗi gì mà khiến một người đĩnh đạc, uy quyền như thế phải trăn trở, ăn năn? Những ngày sau đó câu hỏi ấy luẩn quẩn trong đầu, nó truyền vào mỗi nhát đục, vào vết mài. Ninh Trọng Cát bị cuốn hút vào việc một cách say mê.