Tuổi chưa thật cao nhưng nỗi khổ đau, dằn vặt tâm can nhìn bộ dạng thái sư, trạng nguyên Lê Văn Thịnh thật tiều tụy. Sức cùng lực kiệt, ông lần về quê. Món nợ báo hiếu song thân, tình cảm quê hương cật ruột ông phải trả. Điều làm ông đau đáu nữa là phải tìm được gia đình em Hoàng Mai. Ông sẽ trở lại thăm dân bản Thu Cúc, đưa vợ, con ông về Bảo Tháp… Những ý nghĩ ấy trở đi trở lại mỗi đêm ông tá túc trên đường. Lê Văn Thịnh không nhớ được ngày tháng. Song quang cảnh trên đường, khí trời lạnh sâu, ông biết đã cuối tháng Chạp. Sắp đến tết rồi. Đồ ăn, thức uống mang theo hết từ mấy ngày trước. Áo quần bẩn thỉu. Người gặp trên đường nghĩ là một cụ già hành khất.
Chập chiều bờ đất ven sông Thiên Đức hun hút gió. Sắp tối mà phía trước không thấy nhà cửa gì. Xung quanh đồng bãi bỏ hoang. Đi thêm một đoạn, dưới chân đê một ngôi chợ không người (32). Lê Văn Thịnh nghĩ chắc phải nghỉ đêm ở đây. Ông đến gian quán có vách che bên con sông nhỏ hiền hòa. Ngóng ngược nhìn xuôi một lúc, ông nhận ra nơi này quen quen. Chợt Lê Văn Thịnh ồ lên. Đây chính là bến sông Dâu. Hai mươi mốt năm trước ông chia tay nàng Doãn và em Hoàng Mai ở bến này để vào kinh ứng thí. Thời gian đã quá lâu rồi. Sau ngày đó, ông đã có hai lần trở về Bảo Tháp để vinh quy bái tổ, và cưới nàng Doãn. Nhưng hai chuyến đó đi đường khác. Đi xe ngựa, võng lọng, ông quên rồi. Chuyến vào kinh ứng thí bằng thuyền trên sông Dâu cùng nàng Doãn và em Mai mới là chuyến đi in mãi trong tâm trí. Chuyến đi mở đầu cho sự nghiệp. Dấn thân vào đời… Không ngờ ngày trở về, ông gặp lại bến sông này. Con sông Dâu gắn chặt cuộc đời ông. Gắn chặt với số phận ông. Cuộc đời khép một vòng tròn kỳ lạ đến vậy.
Từ đây về Bảo Tháp chỉ còn vài chục dặm. Hai ngày nữa ông sẽ tới nhà. Lê Văn Thịnh ngó nghiêng quán chợ xem có gì người ta bỏ đi có thể ăn tạm đỡ đói lòng. Ông vục hai bàn tay xuống sông Dâu. Nước mát quá. Lê Văn Thịnh gỡ tay nải ghé lưng lên sạp nứa. Cái mệt cái đói như cùng nhau kéo đến. Đầu óc trĩu nặng Lê Văn Thịnh chìm vào cơn mê mụ. Chợt có người lay ông dậy. Mở mắt, Lê Văn Thịnh thấy một dị nhân. Bộ râu cước dài bay phất phơ. Trang phục rộng lùng thùng mầu gụ bạc giống như người tu hành. Dị nhân hỏi:
– Cụ đi đâu mà nằm ở đây? Trời tối rồi.
Lê Văn Thịnh thều thào:
– Thưa sư phụ, tôi về trên Bảo Tháp, Gia Định. Đường còn xa mà sức thì kiệt.
Dị nhân ái ngại:
– Trông cụ mệt lắm. Để tôi kiếm bát cháo hoa cho cụ ăn.
Lê Văn Thịnh tạ ơn. Dị nhân đi một thoáng đem về lưng tô cháo, khói lên nghi ngút. Lê Văn Thịnh bưng tô cháo xoay húp vòng quanh thật ngon lành. Chờ Thịnh ăn xong. Dị nhân lại hỏi:
– Cụ còn muốn ăn gì nữa không?
Lê Văn Thịnh thưa:
– Tôi thèm một khúc cá chép nướng.
Dị nhân không nói gì, bước ra khỏi quán. Nửa canh giờ ông đem về một con cá mè còn tươi rói. Dị nhân bảo:
– Mùa này lạnh, cá chép ngủ dưới đáy ao khó bắt lắm. Mà hôm nay ông bà Táo Quân lên thiên đình, cá chép càng hiếm. Chỉ tìm được cá mè, cụ dùng tạm.
Lê Văn Thịnh cảm động:
– Tấm lòng của sư phụ thật quý hóa. Vậy ra hôm nay ngày hăm ba tháng Chạp rồi ư?
… Lửa được nhóm ngay trong quán. Hai người đàm đạo chuyện thế sự. Dị nhân hỏi thăm gia cảnh, Lê Văn Thịnh nói thác:
– Tôi lên ngược làm thợ sơn tràng thuê cho chủ rừng. Nước độc, chướng khí ốm lên ốm xuống. Đành lần về quê.
Dị nhân cười. Cái cười độ lượng. Hai người nói về cái tết đang đến gần. Dị nhân bảo nơi họ đang ngồi là chợ Nghè, làng Điềng, hương Thuận Thành. Lê Văn Thịnh đắn đo rồi hỏi:
– Sư phụ có nghe gì về vụ án Thái sư Lê Văn Thịnh làm mẹo hóa hổ giết vua năm trước không?
Dị nhân bảo:
– Bần đạo là kẻ hành khất. Nay đây mai đó. Chuyện trong thiên hạ phảng phất bên tai.
– Vâng, vùng này kề bên kinh thành Thăng Long, tôi chợt nghĩ tới tin đồn thổi trong dân gian mà hỏi vậy thôi. Người ta cho rằng Thái sư Lê Văn Thịnh bị oan.
Dị nhân khơi thêm đống lửa, không nói gì. Thịnh hỏi sang chuyện khác:
– Thưa sư phụ, do đâu trong cùng đồng loại mà có người tốt kẻ xấu. Người thiện kẻ ác?
Dị nhân giải thích:
– Phật dạy giống người chìm đắm trong “Vô minh”: không biết rõ đúng sai; điên đảo hư vọng chấp ngã, chấp pháp, phân biệt mình với người; mê hoặc mà tạo tác ra nghiệp hoặc thiện hoặc ác. “Vô minh” thuộc về “nghiệp”. Đó là “Nhân” trong quá khứ. Nó làm nên “Quả” hiện tại. Rồi “Quả” hiện tại lại là “Nhân” của vị lai”.
Lê Văn Thịnh lại hỏi:
– Thưa sư phụ, Nỗi đau khổ của con người đều từ do vô minh mà ra ư?
Dị nhân bảo:
– Đúng thế, Phật dạy: “Thế giới chia ra ba sắc. Sắc dục giới; Sắc giới và vô sắc. Có sáu loài sống trong sắc dục giới. Chúng bị lòng dục sai khiến. Đó là: Chư thiên, giống người, A tu la, địa ngục, ngã quỷ và súc sinh. Giống người tuy đứng thứ hai nhưng vẫn bị dục giới chi phối. Thể hiện ở “xúc”. Xúc đem lại sự cảm biết cho thân xác như: nóng, lạnh, đau, thèm ăn, ngủ, ân ái, nhục cảm… Ở một số người chìm đắm quá sâu trong “vô minh” khiến “xúc” càng đẩy cao thành thói tự mãn, luôn muốn hơn người, ghen tị, hám danh, lợi.
Lê Văn Thịnh chen ngang:
– Thưa sư phụ, phải chăng đây chính là nguồn gốc, dẫn tới thiện, ác?
– Đúng thế. Phật dạy: “Nước mắt chúng sinh còn nhiều hơn bốn bể”. Lòng tham thì không có giới hạn. Những kẻ tham vọng quá lớn, đạt được cái này lại muốn cái khác. Không khác gì kẻ đang khát mà uống nước muối vậy.
Thịnh lẩm bẩm trong miệng:
– Tôi hiểu ra rồi. Những kẻ chìm đắm trong vô minh thì lửa tham cháy rực. Nó đốt nóng lòng đố kỵ, tham lam từ đó mà làm hại người khác để mình vinh thân.
Dị nhân bảo:
– Cụ ngộ tới cái lõi của bể khổ rồi đấy.
… Khí lạnh lan vào quán, khuya lắm rồi, chắc đã sang ngày mới. Lê Văn Thịnh buồn ngủ díp mắt. Không cưỡng được, ông xin phép dị nhân nằm lên sạp. Giấc ngủ ập đến. Ngủ mà vẫn đầu óc vẫn lơ mơ. Lê Văn Thịnh nghe tiếng dị nhân thì thầm như hát:
“Biển khổ mênh mông sóng lút trời
Khách trần chèo một chiếc thuyền trôi
Thuyền ai ngược gió, ai xuôi gió
Xét lại cùng trong biển thảm thôi.
Lê Văn Thịnh bật nói trong vô thức: “Tôi oan khuất lắm. Tiếng nhục này bao giờ mới rửa nổi”. Dị nhân bảo: “Lúc nãy cụ nhắc đến chuyện Thái sư Lê Văn Thịnh. Người đời cho là oan. Nhà Phật coi là chữ duyên sinh thôi. Thịnh nói: “Tôi muốn nghe về chữ duyên ấy ạ”. Dị nhân giải thích: “Lê Văn Thịnh lúc nhỏ thông minh hiếm có. Cuộc sống hanh thông. Đi thi đỗ đầu. Quyền chức sớm đạt. Danh vọng tuyệt đỉnh… đó là gặp lúc nhân duyên hòa hợp. “Nhân duyên hòa hợp, hư vọng hữu sinh”. Rồi Lê Văn Thịnh bị kẻ ác ám hại là lúc nhân duyên biệt ly. “Nhân duyên biệt ly, hư vọng danh diệt”. Ngộ lời Phật thì chẳng nên coi đó là oan khuất, đúng sai”. Lê Văn Thịnh im lặng. Dị nhân lại bảo: “Oan, không oan tất cả chỉ là cơn mộng mị trong giấc chiêm bao. Phúc họa vô thường. Mọi an vui, khổ đau, oan trái thực chất đều quy về một chữ “không” cả. Con người ta cũng từ nhân duyên hòa hợp của tinh cha huyết mẹ, của vật chất áo cơm rồi công chăm bẵm dạy dỗ mà thành. Nhưng thực chất con người ấy cũng là mộng ảo thôi. Đời là bể khổ. Đời vốn mong manh, vô thường cần chi phải cố chấp chuyện oan khuất, khổ đau, sinh tử”. Lê Văn Thịnh nghe ra. Mọi ẩn ức trong lòng tan biến. Ông chìm vào giấc ngủ. Một giấc ngủ ngon. Miệng nở nụ cười. Nụ cười ngộ giác: “TẤT CẢ CHỈ LÀ MỘNG ẢO!” Vậy giữ lại trong mình làm chi những ái ố hỉ nộ ở đời.
… Chợt Lê Văn Thịnh lại thấy mình đang trên sông Dâu. Người lái bây giờ là Doãn vợ ông. Doãn Hoàn Doãn cười thật tươi. Nàng gọi: “Con yêu ơi, bố Thịnh về rồi”. Lê Văn Thịnh ào tới. Ông ôm chặt Doãn vào lòng. Lần này ông đã ôm được nàng. Mừng mừng tủi tủi. Bế đứa con trai bé bỏng trong lòng. Đứa con lần đầu ông biết mặt. Nước mắt tràn ra… Chưa kịp đôi hồi, tất cả lại biến mất, chỉ còn mình ông trên thuyền. Vợ con ông đâu rồi. Thuyền vẫn lướt đi. Tới bờ một đầm sen, nhìn thấy chùa Bút Tháp xa xa. Lại như nhìn thấy bóng núi Thiên Thai hiển hiện. Chiếc thuyền vụt cất bổng lên, lật úp chụp xuống người. Khung cảnh tối đen. Lê Văn Thịnh tắt lịm trong lòng thuyền.