CHƯƠNG 34: BẤT HẠNH CHƯA BUÔNG THA


Ngôi nhà sàn nhỏ của ông lang Thịnh nép sâu hơn các nhà khác trong bản Thu Cúc. Không xa con đường mòn từ Trại đầu Thao Giang lên bản. Đúng như lời cai trại Khiêm Tản dặn già Bùi Điểu khi chọn đất dựng nhà cho ông lang Thịnh. Nơi này thoáng mát. Cảnh trí tươi đẹp, hùng vĩ. Đầu nhà sàn có cụm cây hoa dẻ đã nhiều tuổi lắm. Thân cây to. Tán lá mướt xanh. Doãn Hoàn Doãn đặc biệt thích những chùm hoa dẻ vàng. Loại hoa này được gọi bằng nhiều tên: Hoa lan rừng, hoa hoàng hậu… Dẻ vàng là cây mang hồn vía của vùng đất bán sơn địa. Thứ đất pha đá ong non. Dẻ vàng mọc rất nhiều ở bản Thu Cúc. Hai bên lối đi vào rừng, cả chỗ vườn thuốc của ông lang Thịnh đều thấy loại hoa này. Chớm hè, hoa dẻ bắt đầu buông từng cái như chiếc đèn lồng nhỏ xanh xanh. Chín, hoa chuyển mầu vàng và bắt đầu tỏa hương. Hương hoa dẻ thơm dịu, phảng phất quanh nhà. Ông lang Thịnh bảo dẻ vàng cũng là một cây thuốc. Quả nó ăn được. Mỗi khi mệt nhọc, tâm trạng không vui, hương hoa dẻ vàng làm thần kinh đỡ căng. Cái mệt cũng tan biến. Doãn Hoàn Doãn thường ngắt một bông dẻ vàng cài lên mái tóc. Mùi thơm dịu ngọt cứ theo nàng từng bước.

Đã lại đến kỳ đi hái thuốc. Vẫn như mọi khi ông lang Thịnh chuẩn bị đồ ăn nhẹ, nước, thuốc. Từ ngày Doãn Hoàn Doãn lên Thu Cúc, đã hai lần nàng đòi đi theo. Ông chiều vợ mà cho đi. Nhưng khi nàng có thai, ông lang Thịnh không cho đi theo nữa. Đoạn đường từ ngôi nhà sàn nhỏ của vợ chồng ông lang tới bìa rừng khá bằng phẳng. Nàng Doãn tiễn chồng đến đó mới quay về. Mỗi chuyến hái thuốc ông lang về đến nhà thường quá trưa. Những hôm ấy nàng Doãn lại tranh thủ tới thăm dân bản. Nhà ai có người đau ốm, nàng hỏi thuốc còn hay hết? Bệnh có thuyên giảm không? Có cần ông lang thăm khám gì không? Trẻ con thấy mế Doãn đến là xúm vào hỏi cái chữ. Hỏi việc này việc nọ. Nàng say sưa giúp dân bản, đỡ cho chồng rất nhiều.

Doãn Hoàn Doãn mang thai đã qua tháng thứ ba. Thân hình mập ra, mệt mỏi nhưng nàng rất vui. Thăm hơn chục nhà thì trời gần trưa. Doãn nghĩ chỉ hơn canh giờ nữa chồng nàng sẽ về đến nhà. Nàng muốn sát giờ đó mới nấu cơm cho nóng sốt. Doãn đon đả bước. Vừa đến đầu con đường mòn, nàng nhìn thấy bốn người đeo gùi chống gậy đi lên. Trông cách đi, cách ngó nghiêng Doãn nghĩ họ là người lạ, chắc đến bản Thu Cúc lần đầu. Vóc dáng ai cũng to lớn, khỏe mạnh. Tự dưng Doãn chột dạ. Từ khi chồng nàng bị kẻ xấu hãm hại, tâm trạng Doãn như con chim bị thương. Dễ lo lắng. luôn cảnh giác, đề phòng. Doãn nép sau một lùm cây rậm rạp. Tốp người chừng đã mệt. Họ dừng lại nước uống. Một người hỏi:

– Theo chỉ dẫn của quan Thái Bá thì bản Thu Cúc ngay trước mặt kia rồi.

– Chắc thế, quanh đây có bản nào khác đâu. Từ trại tù lên đây khoảng chục dặm là đúng rồi.

Doãn co rúm người. Khí giọng đầy sát khí. Họ nhắc đến quan Thái Bá, đến trại tù thì đúng là lính triều đình rồi. Chưa biết tính cách sao, nàng nghe tên cầm đầu nói tiếp:

– Bây giờ tách làm hai. Hai ngươi đi vào bản giả đổi hàng. Còn ngươi đi với ta. Việc chính là tìm ra tên Lê Văn Thịnh.

Một tên lính hỏi:

– Thưa chỉ huy, nếu tìm thấy thì bắt về triều hay thủ tiêu ạ.

– Ngươi quên lời quan Thái bá dặn rồi à? Thấy thì hạ thủ luôn. Nếu hắn đang ở chỗ dân bản thì tìm nhà. Tối quay lên giết cả hai vợ chồng.

Bàn tay giữ bụng, tay kia bịt chặt miệng. Doãn Hoàn Doãn tưởng tim mình ngừng đập. Lính triều đình lên sát hại vợ chồng nàng. Doãn cố nín nhịn chờ mấy tên lính đi khuất, Nàng ôm bụng chạy. Doãn Hoàn Doãn chạy theo lối đi hái thuốc. Trong đầu chỉ một ý nghĩ phải báo cho chàng biết. Cái thai trong bụng thư thoảng lại đạp. Doãn quặn người. Nghỉ một lúc, lại chạy. Bọn lính triều đình đang tìm giết chàng… Lời Điện tiền chỉ huy sứ Vũ Uẩn dặn hôm trước: “Tuy vua tha chết cho quan Thái sư nhưng bọn người xấu vẫn muốn Thái sư phải chết…”. Giờ lời huynh Vũ Uẩn đúng thật rồi.

Mặt trời sắp đứng bóng. Đoạn đường không quá xa mà sao Doãn thấy lâu đến thế. Mà sao nàng cũng khỏe thế. Trong đầu chỉ một ý nghĩ báo cho chồng trốn đi… Mãi rồi khe núi cũng ở trước mặt. Leo qua mỏm đá này mới khuất. Người từ trong bản nhìn ra không thấy được. Đã hai lần Doãn đi cùng chồng qua đây nên nàng biết. Sau khe núi kia là lối dẫn vào rừng. Nàng sẽ đợi chồng ở đó. Vỉa đá không cao lắm nhưng bụng mang dạ chửa, tâm trạng quá căng thẳng, sợ sệt nàng leo thật vất vả. Đá hấp ánh nắng bỏng và trơn. Doãn thấy người bã ra. Song nghĩ đến bọn lính, nàng lại cố. Đoạn nữa thôi. Một đoạn nữa thôi. Bất ngờ Doãn trượt ngã. Hòn đá lẻ dưới chân lật ngang. Nàng chới với, đầu đập xuống. Doãn Hoàn Doãn nằm chết lịm.

Mặt trời lệch về tây, ông lang Thịnh mới ra đến bìa rừng. Hôm nay ông cố lấy thêm thuốc cho dân bản và cả người tù đau nặng. Về muộn hơn các chuyến trước gần một canh giờ. Chắc giờ này vợ ông đang sốt ruột ngóng đợi. Vừa bước lên vỉa đá, mắt ông lang trợn ngược. Nàng Doãn nằm trên lối đi, dưới đầu một vũng máu đang khô dần. Ông lang Thịnh quăng gùi, lật vợ lên. Áp tai vào mũi, vào miệng. Làm động tác hồi sức… Cơ thể Doãn đã lạnh nhưng trong ngực hình như còn thoi thóp. Tiếng thoi thóp rất nhỏ. Mạch lúc có lúc mất. Ông lang Thịnh kích cho tim đập trở lại. Doãn Hoàn Doãn mở mắt nhìn ông. Cái nhìn thật khó tả. Tràn ngập yêu thương, xa xót. Môi nàng mấp máy. Lê Văn Thịnh ghé sát vào miệng Doãn. Nàng thều thào: “Trốn… đi… Lính…lính…giết…”. Chỉ nghe được thế. Doãn tắt lời. Ông lang Thịnh cuống quýt làm hô hấp. Ấn mạnh lên ngực. Thổi vào miệng… Mắt nàng hé mở, ngón tay khẽ cựa. Ông lang Thịnh nắm chặt tay vợ. Ngón tay nàng siết lại. Doãn như muốn giữ chặt tay chồng. Khóe mắt rỉ nước. Ánh nhìn cố nuốt lấy khuôn mặt chồng, rồi đầu ngật đi. Doãn không ở lại với ông nữa. Nàng đã đợi. Cố đợi để nhìn thấy chồng lần cuối. Để báo cho chồng tin dữ. Lê Văn Thịnh ôm vợ. Hức lên. Hức lên như người hết hơi. Đầu ken chặt câu hỏi: “Sao Doãn lại ra đây?”. Lời nàng: “Trốn đi…lính…lính… triều đình…giết…” là ý gì?

Ông lang Thịnh khóc không thành tiếng. Chỉ gào khan. Cổ họng có lửa đốt. Đớn đau, xa xót đến tuột cùng. Ông ôm Doãn ngồi thế bao lâu không biết. Đầu óc mụ mị… Rồi ông lơ mơ nghe như có tiếng chân người. Rất nhiều người.

Già bản Bùi Điểu nhận ra ông lang Thịnh đầu tiên. Các trai tráng trong bản vòng quanh. Tay họ cầm giáo mác. Có người lăm lăm con dao đi rừng. Tất cả sững lại trước cảnh tượng đau lòng. Rồi tất cả quỳ xuống. Nước mắt tràn trên những khuôn mặt gân guốc, khắc khổ.

Lửng chiều họ mới đưa được nàng Doãn và ông lang Thịnh về bản. Mấy thanh niên thay nhau cõng ông. Dân bản Thu Cúc nối nhau chạy ra đón. Một ngày quá đỗi buồn đau của bản Mường. Đêm ấy, bản Thu Cúc không ngủ. Già Bùi Điểu cắt cử trai bản thay nhau phục thuốc, bón cháo cho ông lang Thịnh. Họ không rời ông một bước.

Các bếp nhà sàn đỏ lửa. Đàn ông, phụ nữ lặng lẽ chuẩn bị cho đám tang mẹ con nàng Doãn vào hôm sau. Họ nấu các món cúng, chuẩn bị đồ lễ theo phong tục làm ma của người Mường. Một đám tang đông chưa từng thấy ở Thu Cúc từ xưa tới nay. Ròng rã mấy ngày.

Ông lang Thịnh, thầy giáo Thịnh và nàng Doãn vợ ông đã là người của bản Thu Cúc rồi mà. Học trò thầy giáo Thịnh xin đội khăn trở mế Doãn như để tang mẹ. Một lễ riêng cúng vong linh đứa con chưa chào đời của vợ chồng ông lang Thịnh. Già Bùi Điểu bảo: “Cháu chưa ra đời nhưng đã thành người rồi. Ba tháng là cái tim bé đã đập rồi. Thành người rồi…”. Ông lang Thịnh vô cùng xúc động. Tình cảm của dân bản an ủi ông phần nào. Ông đa tạ dân bản đã lo cho nàng Doãn và con ông như người ruột thịt.

Việc xong ngồi lại, già Bùi Điểu, các chức sắc của bản mới hiểu vì sao nàng Doãn đón đường ông lang Thịnh. Đúng hôm ấy có đám người lạ lên bản đổi hàng. Một tên dò hỏi nhà ông lang người trời ở chỗ nào. Họ muốn nhờ ông cắt thuốc. Trai bản ngờ đây là lính triều đình tìm bắt ông lang nên bám theo. Thấy các trai bản tay lăm lăm giáo mác, biết không thể động thủ được, chúng bỏ đi. Nàng Doãn nghe được chuyện nên chạy vào rừng báo cho chồng.

Không để ông lang ở ngôi nhà cũ được nữa, dân bản làm cho ông một ngôi nhà khác ngay cạnh già Bùi Điểu. Trai bản đặt trạm gác từ xa. Ai vào cũng bị chặn lại. Người Thu Cúc không cho ông lang Thịnh đi đâu một mình. Đi hái thuốc có trai tráng đi cùng. Họ gùi thuốc cho ông. Đêm đêm trai bản thay nhau gác trên con đường lên bản.

Từ ngày vợ chết, ông lang Thịnh như không còn là mình. Vẫn dạy học, bốc thuốc nhưng mỗi khi mọi người về cả thì ông lại như một cái bóng. Trời chớm đông. Cái lạnh hơi núi, hơi rừng năm nay như buốt hơn. Tê tái hơn. Tính ra chỉ khoảng bốn tháng nữa ông đã vào cái tuổi “tri thiên mệnh” rồi. Chưa hẳn già song ở quê ông tuổi ấy đã sắm lễ ra đình mon men dự vào hội phụ lão. Gần một năm ẩn mình nơi rừng thiêng nước độc này ông lang Thịnh quen dần với thung thổ nơi đây. Song cái chết của Doãn giáng vào ông chẳng khác gì nhát dao đâm trúng tim. Tạng người như ông cái đau, cái nghĩ, cái xa xót thường lặn vào trong. Nó tàn phá tâm can, làm tâm thần ông bị hủy hoại. Ăn không còn biết ngon miệng. Ngủ không đêm nào đẫy giấc. Nửa đêm nhớ Doãn, thức dậy hai mắt đau xé, đầm đìa. Có hôm sờ lên mặt thấy nhơm nhớp. Hóa ra toàn máu. Ông co ro. Tay lần sờ chỗ Doãn nằm. Hơi thở đứt đoạn.

Bắt đầu từ những đêm ấy, ông lang Thịnh nghe trong mình không ổn. Ngày nào ông cũng ra mộ vợ. Mỗi ngày một ôm hoa. Những cành dẻ vàng thơm ngọt dịu mà Doãn của ông rất thích. Nó nhắc ông nhớ lại những ngày hạnh phúc nhất trong đời. Bên căn nhà sàn trước của vợ chồng ông, có mấy cây hoa dẻ này. Cành nó sà vào sát cửa sổ. Đêm vắng mùi thơm mới thật ngọt. Nó nhuộm đầy gian nhà. Nó len vào giấc ngủ. Doãn Hoàn Doãn của ông mê đi trong khoảnh khắc đó. Nàng nằm nhắm mắt hít hà mùi hoa lan. Có khi xòe hai bàn tay khua khoắng như muốn bắt lấy mùi thơm của nó. Nhiều đêm nằm trong lòng chồng. Tay xoa xoa bụng, lắng nghe con đạp. Thư thoảng nàng lại ấp bàn tay nhỏ xinh, ngón thon dài lên mũi chồng: “Anh thấy thơm không?”. Nàng cầm tay chồng đặt nhẹ lên bụng mình: “Anh thấy tay con nó đang nắm tay anh không?”. “Anh thấy con đang gọi bố không?” … Ông áp tai lên vòm bụng. Thơm lên làn da căng tròn, mềm mại thì thầm, sung sướng. Doãn Hoàn Doãn xoa xoa mái tóc chồng. Không phút giây nào hạnh phúc nồng nàn hơn thế.

Ông lang Thịnh “ngồi” bên Doãn. Trên mộ nàng lớp hoa nọ phủ lên lớp hoa kia. Về đến nhà hình bóng Doãn như lại theo về. Người vợ yêu vẫn hiện diện trong căn nhà cùng ông. Nàng vẫn ăn cùng ông. Vẫn ngủ cùng ông mỗi đêm. Lê Văn Thịnh không phân biệt được mình đang sống ở cõi nào. Dương hay âm. Mệt quá chợp mắt, ông lại thấy cùng Doãn cầm tay nhau tung tăng trên con đường đầu dốc núi Thiên Thai. Có khi bước sóng đôi trên con đường thân thuộc từ Bảo Tháp sang Điền Mô.

Đôi khi Lê Văn Thịnh tự hỏi kiếp trước mình mắc tội gì. Tại sao bất hạnh cứ theo ông mãi đến cuối đời. Không chỉ bản thân ông gặp tai họa. Doãn và con ông, đứa con chưa kịp làm người cũng phải chịu đọa đầy trong cái chết thê thảm đến thế.