Gần một năm Thái sư Lê Văn Thịnh vắng bóng ở triều, vua Lý Nhân Tông đối mặt với bao rắc rối nảy sinh. Giáo hội dựa vào ủng hộ của Hoàng Thái phi Ỷ Lan xây cất nhiều chùa chiền và bành trướng như một thứ quyền lực mới. Đám thương nhân giầu có người Việt liên kết với hội buôn người Hoa o ép giới buôn bán nhỏ. Tiền thuế sụt giảm. Trong cung đình nảy sinh một lũ quan lại cơ hội. Chúng cùng bọn thái giám tìm đủ cách đưa vua Lý Nhân Tông vào những cuộc ăn chơi hưởng lạc.
Tuy không nắm cái ghế Thái sư đầu triều, Hỏa Văn Ngọ vẫn có quyền lực nhất, chỉ đứng sau vua. Ngoài Quốc lão Thái úy Lý Thường Kiệt, không còn ai dám can gián Lý Nhân Tông. Hà Ngô Tự cầm chức Tả tham tri chính sự, đứng sau Hỏa Vân Ngọ, nhưng ông tránh mọi cám dỗ. Từ ngày Thái sư Lê Văn Thịnh bị vu oan, Hà Ngô Tự mấy lần tâm sự với Nguyễn Trực Nhẫn:
– Thầy chúng ta, cụ Lê Thành trước đây từng dặn về chuyện cạm bẫy vinh nhục chốn quan trường. Ngẫm lời thầy giờ càng thấy đúng. Ngu đệ dạo này hay nghĩ đến việc từ quan.
Nguyễn Trực Nhẫn nói:
– Huynh đệ ta có lẽ ai cũng đều có tâm trạng ấy cả. Nhưng nếu người tốt bỏ đi hết thì xã tắc nguy mất. Giả bây giờ Quốc lão Thái úy Lý Thường Kiệt buông gươm thì Đại Việt sẽ như thế nào.
– Chính vì nhìn vào tấm gương Quốc lão mà đệ nấn ná. Song vẫn định lần này Quốc lão Thái úy về triều, đệ sẽ bẩm trình nguyện vọng đó để Quốc lão Thái úy không đột ngột.
– Xin huynh hãy thong thả, đệ cũng đang nóng lòng chờ Thái úy về đây.
– Có việc trọng về quân cơ à?
– Đúng vậy, đệ vừa được bẩm báo nhiều tin đáng lo ngại.
– Huynh có thể chia sẻ với đệ không?
– Đúng như quan Thái sư Lê Văn Thịnh linh cảm. Đản Hớn chính là trùm mạng lưới do thám của nhà Tống ở Thăng Long từ lâu. Mấy tháng nay hắn bắt đầu hoạt động mạnh.
Hà Ngô Tự:
– Vậy là Thái sư đại nhân đã phát hiện ra chúng từ rất sớm. Nếu Đản Hớn khống chế được Hỏa Văn Ngọ thì ngay trong cung đình chúng đã kết thành một ổ. Hỏa Văn Ngọ – Thái Bá – Đỗ Chùy… và rất có thể cả tên Khuất Nô kẻ thân tín của Khô Đầu. Trời ơi cả một mạng lưới phản quốc bao quanh đức vua? Để chúng rảnh tay thì nguy khốn cho Đại Việt ta mất. Không thể ngồi chờ Quốc lão Thái úy. Phải cho người cấp mời Quốc lão về triều.
Nguyễn Trực Nhẫn nói:
– Đệ sẽ sai người đi ngay vời Thái úy. Trước đây chúng ta đã mường tượng ra âm mưu của chúng. Do chậm chân mà chúng vẫn hại được quan Thái sư. Nay vận mệnh đất nước cũng không khác gì. Không thể để chúng ra tay trước. Ý định từ quan của huynh gác lại đã. Huynh cùng đệ và đại nhân Vũ Uẩn phải làm gấp mới được.
Hà Ngô Tự bảo:
– Đệ đồng ý.
Mạng lưới do thám của nhà Tống cài cắm ở Đại Việt từ thời Tống Thần Tông và Vương An Thạch. Đông nhất nằm trong hội buôn người Hoa ở Thăng Long. Sau thất bại trên sông Như Nguyệt, Vương An Thạch mất chức, kế hoạch tiêu tan. Tưởng đám do thám cũng tan theo. Song khát vọng xâm chiếm Đại Việt giống như một thứ gen trội chưa bao giờ nguội lạnh trong đầu óc các triều đại Trung Hoa. Tống Triết Tông lên trị vì, hắn cho người dựng dậy cái mạng lưới do thám cũ chờ thời cơ sử dụng.
Người Hoa là dân tộc có duyên buôn bán nhất thế giới. Họ chịu khổ, chịu nhục giỏi. Từ buôn to, vốn lớn tới bán lẻ đầu đường, góc chợ. Các mặt hàng vàng bạc, đá quý, tiệm cao lâu, cô đầu, bốc thuốc, sạp vải tới gánh tào phớ bán rong, cái xe đẩy vài gói bi don don, bi ngọt ngọt… đâu đâu cũng có mặt người Hoa. Phần lớn họ là người lao động chăm chỉ, lương thiện. Vì sinh kế họ coi Đại Việt làm quê hương thứ hai. Nhưng núp bóng họ, hàng trăm tên do thám ăn bổng lộc của nhà Tống nhằm phá hoại đất nước mà chúng đang tá túc.
Quốc lão Thái úy Lý Thường Kiệt đi thị sát vùng biển Tô Mậu. Nhận tin Thái úy tức tốc trở về triều. Nguyễn Trực Nhẫn và Hà Ngô Tự có mặt ngay tại dinh Quốc lão. Nguyễn Trực Nhẫn thưa:
– Trình bẩm Quốc lão Thái úy, đúng như những gì thái sư Lê Văn Thịnh linh cảm. Bọn do thám nằm vùng ở Đại Việt đang ngóc đầu dậy.
– Hai ngươi đã tìm được những gì?
– Theo lời dặn của Thái sư Lê Văn Thịnh, hạ quan đã cho người theo sát Đỗ Chùy và Thái Bá. Hai tên này là sợi dây nối Hỏa Văn Ngọ với Đản Hớn. Gần đây hạ quan còn thấy Đỗ Chùy hay gặp Khuất Nô, kẻ hầu hạ thân tín của Quốc sư Khô Đầu.
Quốc lão Thái úy hỏi:
– Gốc gác tên Khuất Nô này thế nào?
– Kính bẩm Quốc lão, tên này người Phúc Kiến, vào Thăng Long từ thời Vương An Thạch làm Tể tướng dưới triều Tống Thần Tông.
Từ sau vụ Thái sư Lê Văn Thịnh bị kẻ xấu hãm hại, Quốc lão Thái úy Lý Thường Kiệt rất quý, tin tưởng Hà Ngô Tự và Nguyễn Trực Nhẫn. Họ là những người đỗ đại khoa, lại cùng quê phủ Thiên Đức với Lê Văn Thịnh. Cả hai đều sống ngay thẳng, liêm chính, hết lòng vì nhà Lý và xã tắc. Điều mà Lý Thường Kiệt trọn đời nguyện giữ. Lý Thường Kiệt hỏi:
– Có gì về tên Khuất Nô này nữa không?
Hà Ngô Tự thưa:
– Trình Quốc lão đại nhân, tên này người nhỏ, gầy, dặt dẹo, mặt nhọn choắt, hai con mắt láo liên nên cái tên Khuất Nô không mấy ai gọi. Nô cầm tinh chó nên mọi người gọi nó là Cẩu Choắt. Choắt rất nhanh nhẹn, có khiếu nói, lại nghe đâu biết xem tướng số, bói toán nên dễ mê hoặc người ta. Cẩu Choắt rêu rao mình có thể đoán đúng hậu vận của bất cứ ai. Người trong cung thi nhau nhờ hắn xem tướng. Choắt lợi dụng cách này moi tin từ cánh quan lại mê tín và cả vợ con họ.
Nguyễn Trực Nhẫn nói thêm:
– Kính bẩm Quốc lão, điều mà hạ thần để tâm nhất là tên Khuất Nô lại là chỗ không xa lạ gì với Đản Hớn.
Lý Thường Kiệt tỏ ra hài lòng. Ông khen hai thuộc quan:
– Dã tâm thôn tính Đại Việt là ước muốn của mọi triều đại phương bắc. Mỗi lần chúng định ăn cướp nước ta thì đều có các hành động do thám. Câu kết với bọn người xấu trong nước. Lần này, tin tức của hai ngươi rất có ích. Ta đồng ý với nhận định của Đô thống nguyên soái. Vụ mưu hại Thái sư Lê Văn Thịnh rất có thể có bàn tay của bọn Tống gian – Quốc lão trầm tư một lúc sau ông hỏi – À mà gần đây ngươi có lên Trại đầu Thao Giang không?
Nguyễn Trực Nhẫn thưa:
– Trình bẩm Quốc lão đại nhân, hạ quan ở đó về nửa tháng nay. Thái sư Lê Văn Thịnh vẫn bình an trong một bản người dân tộc Mường.
Thái úy Lý Thường Kiệt nói với hai người:
– Ta hình dung trong triều đã có một đường dây thao túng triều chính. Quốc sư Khô Đầu dựa vào sự sủng ái của Hoàng Thái phi Ỷ Lan khuếch trương ảnh hưởng của Phật giáo. Nhưng ông ta có làm do thám cho nhà Tống hay không thì còn phải xem xét cẩn trọng. Thái sư Lê Văn Thịnh nghi ngờ Hỏa Văn Ngọ bị Đản Hớn mua chuộc. Nhưng cũng phải tính đến hai khả năng. Đản Hớn cung phụng tiền vàng của cải cho Hỏa Văn Ngọ để giới người Hoa thao túng thị trường. Đáng lo nhất, Hỏa Văn Ngọ nhận lời làm tay sai cho nhà Tống. Nếu vậy cạnh đức vua có bọn Tống gian nắm chức vụ rất lớn. Tuy nhiên ta nhắc các ngươi. Khô Đầu được Hoàng Thái phi hết lòng ủng hộ. Hỏa Văn Ngọ là kẻ đang có tiếng nói được đức vua rất tin cậy. Muốn vạch mặt chúng cần có chứng lý xác đáng, khiến chúng không thể chối cãi.
Hà Ngô Tự:
– Lời Quốc lão Thái úy rất đúng. Để có chúng cứ, xin phép Quốc lão cho quan Đô thống nguyên soái Nguyễn Trực Nhân; Điện tiền chỉ huy sứ Vũ Uẩn và hạ quan lập ba nhánh giám sát hành tung của Hỏa Vân Ngọ, Đản Hớn và Khô Đầu.
Lý Thường Kiệt:
– Ta đồng ý. Song nhớ cẩn thận kẻo “dứt dây động rừng”. Ta cũng lưu ý các ngươi chuyện khác nữa.
– Chúng hạ quan nghe Quốc lão sai bảo ạ.
– Nếu Thái sư Lê Văn Thịnh nghi ngờ Hỏa Văn Ngọ làm tay sai cho nhà Tống, thì hắn cũng hiểu sự nguy hiểm thế nào nếu Lê Văn Thịnh còn sống. Vì thế chúng có thể sai người ám hại Thái sư. Trước đây ta còn phân vân nhưng nay thì rõ ý đồ của chúng rồi. Các ngươi cần có biện pháp bảo vệ quan Thái sư.
Nguyễn Trực Nhẫn thưa:
– Quốc lão thật tinh tường. Hạ quan cũng nghĩ chúng chưa buông tha quan thái sư ạ.
Quốc lão nói:
– Cử thêm người tin cẩn lên Trại đầu Thao Giang. Tiếng là thêm lính cho Khiêm Tản. Nhưng là để bảo vệ Thái sư. Bảo vệ cẩn thận nhưng kín đáo.
Hà Ngô Tự, Nguyễn Trực Nhẫn nhận lệnh của Quốc lão thái úy Lý Thường Kiệt. Những ngày bận rộn của họ tăng theo cùng với những động thái mới của mạng lưới do thám nhà Tống.
Trở lại mấy năm trước, sau trận đại bại trên sông Như Nguyệt, Tống Thần Tông cất nhắc Chủng Ngạc lên thay Vương An Thạch. Năm 1081, nội tình nhà Tây Hạ có biến, Chủng Ngạc đệ trình Tống Thần Tông kế hoạch đem quân đánh lên phía bắc. Chiếm được đất, được thành của Tây Hạ cũng khiến Tống Thần Tông đỡ uất hận trận đại bại trước Đại Việt. Vua Tống chuẩn tấu.
Tống Thần Tông giao cho Đại tướng Lý Hiến đem năm vạn lính đánh sang phủ Hưng Khánh. Quân Tống chiếm được tòa thành nhỏ Lan Châu. Vua Tống rất mừng. Ông ta hạ lệnh tiếp tục công phá thủ phủ Hưng Khánh. Nhưng Hưng Khánh là tòa thành rất vững chắc. Tây Hạ dựa vào thành cao hào sâu dùng kế “kiên bích thanh dã”. Năm vạn quân Tống bị chôn chân tại đây nhiều tháng. Biết khó hạ nổi thành, Tống Thần Tông ra lệnh xây dựng Lan Châu trở thành tiền đồn kiên cố bảo vệ vùng đất vừa chiếm được. Chủng Ngạc hối thúc chở vật liệu từ trong nước sang. Một đại công trường bao quanh Lan Châu. Không ngờ thành đang xây dở thì nhà Tây Hạ đánh úp. Tây Hạ xuất hai mươi vạn binh mã. Lực lượng quá chênh lệch. Quân Tống đại bại, phải bỏ Lan Châu. Tây Hạ còn chiếm thêm mấy châu, phủ nữa. Nỗi đau thua trận liên miên khiến Tống Thần Tông ôm hận xuống mồ.
Kế ngôi vua cha khi tuổi còn bé quá, Tống Triết Tông phải dựa cả vào mẹ. Tám năm tập làm vua, Tống Triết Tông mới nắm toàn quyền chấp chính. Vua Tống chọn hai viên quan nhất phẩm làm phò tá. Hứa Tương giữ chức Tả thừa tướng và Thái Biên làm Hữu thừa tướng. Nền kinh tế nhà Tống thời gian này không vực lên được. Đến lượt nhà Liêu nhòm ngó xuống Trung Nguyên. Tống Triết Tông triệu quần thần nghị bàn. Viên Nội thị tên Dương Úy đệ trình kế sách:
– Muôn tâu thánh thượng. Tranh chấp đất đai giữa đại Tống ta với hai nước Liêu, Tây Hạ xảy ra thường xuyên. Cứ mỗi khi nước này suy yếu hoặc trong nội triều có bất đồng là chúng lại xuất binh. Vì thế theo hạ thần phải có cách nào nhanh làm cho Đại Tống mạnh vượt lên thì hai nước kia sẽ tự lui binh.
– Cách nào làm được thế?
Hữu thừa tướng Thái Biên tâu:
– Muôn tâu thánh thượng, năm trước tri châu Chương Tiết dâng lên kế hoạch khống chế nhà Tây Hạ bằng các biện pháp kinh tế. Cho người thâm nhập nước đó phá hoại sản xuất. Đồng thời xây hai thành lũy thật mạnh ở khu vực biên giới là thành Bình Hạ và Linh Bình. Chứa nhiều lương thảo đặt lực lượng lớn đồn trú sẽ khiến Tây Hạ chùn bước.
– Đó là kế hoạch hay nhưng cần nhiều thời gian, của cải. Còn làm sao để kinh tế bật lên nhanh chóng bây giờ.
Dương Úy thưa:
– Muôn tâu thánh thượng, hạ thần cùng nhóm sáu huynh đệ trong Nội thị xin trình bản tấu này.
Tống Triết Tông xem qua, nó na ná chương trình cải cách mang tên “Tân pháp” của Tể tướng Vương An Thạch trước đây. Quần thần bàn thảo sôi nổi. Nội tình nhà Tống nay đã khác nhiều thời Tống Thần Tông và Vương An Thạch nên triều thần có vẻ đồng thuận. Tống Triết Tông cũng cho là nên thử.
Tả thừa tướng Hứa Tương nói:
– Tâu thánh thượng, kế sách của nhóm Dương Úy đại nhân có nhiều điểm mới so với “Tân pháp”. Nhưng để chắc chắn thành công thì phải có nguồn lực và tài nguyên dồi dào.
Tống Triết Tông hỏi:
– Lời bàn của Tả thừa tướng rất xác đáng. Kế sách có hay đến mấy, trước tiên phải có nguồn lực để thi hành. Vậy các khanh đã tính xem đại Tống ta có đủ nguồn lực ấy không?
Dương Úy thưa:
– Muôn tâu thánh thượng. Đúng là nguồn lực có sẵn thì chưa đủ. Nhưng hạ thần cho rằng trong “Tân pháp” của Vương Tể tướng trước đây nhiều mặt dàn trải. Nay chỉ nên tập trung làm trước vào việc thúc đẩy sản xuất lương thực và tăng cường quân sự.
Tống Thần Tông cắt ngang lời Dương Úy:
– Dẫu là chỉ làm mấy việc đó cho thật nhanh thì cũng cần có tiền và tài nguyên chứ?
– Vâng. Nhóm của hạ thần đã soạn thảo một đệ trình kính xin hoàng thượng ban chỉ dụ cho toàn dân chịu đựng kham khổ trong ba năm. Mức thuế phải nộp cho triều đình tăng lên gấp rưỡi.
Hữu thừa tướng Thái Biên lên tiếng:
– Muôn tâu hoàng thượng. Dân tình nước ta mấy năm nay đã khổ sở nhiều vì chiến tranh. Nay nếu lại bắt họ đóng thêm nhiều thuế thì thần e không giữ được nội trị. Đói khổ quá dân làm liều thì kinh tế càng kiệt quệ.
Tống Triết Tông:
– Ta đồng ý với lời bàn của Hữu thừa tướng. Muốn phát triển kinh tế hay xuất binh chinh phạt chư hầu thì trước hết nội tình phải yên. “Dân dĩ thực vi thiên” là điều luôn phải nhớ. Nay cướp miếng ăn, đẩy dân đến đường cùng thì chiến tranh nổ ra ở ngay trong nhà chứ chưa nói đem quân đánh nước khác. Các khanh phải nghĩ cách nào cho trẫm chứ không thể thu thêm thuế của dân.
Không khí buổi triều kiến rơi vào luẩn quẩn. Lâu sau vẫn Hứa Tương lên tiếng:
– Muôn tâu hoàng thượng, thần nghĩ chìa khóa giải quyết vẫn nằm ở Giao Chỉ.
Quần thần xôn xao. Tống Triết Tông hỏi:
– Tả thừa tướng hãy nói rõ ý mình:
– Muôn tâu hoàng thượng, xứ Giao Chỉ là nơi rất giầu có về tài nguyên, sản vật. Thời tiên đế Tống Thần Tông, Tể tướng Vương An Thạch đã có cả một bản đệ trình về số mỏ vàng ở châu Quảng Nguyên. Đất Giao Chỉ ngay sát các châu lộ phương nam của ta. Vàng không chỉ trong đất mà còn cả trong đá. Dân địa phương nhặt được vàng khi sét đánh vào núi.
Tống Triết Tông cắt ngang lời Hứa Tương:
– Ý Tả Thừa tướng muốn ta đem quân chiếm lấy Giao Chỉ?
– Muôn tâu hoàng thượng, đúng vậy. Nếu ta đánh Giao Chỉ, cùng với việc mở rộng lãnh thổ về phía nam sẽ thu được cả cái kho của cải sản vật đồ sộ ấy. Chính sách “Tân pháp” có nguồn lực thực hiện. Quân đội cũng nhanh chóng hùng mạnh.
Tống Triết Tông lại hỏi:
– Thời tiên đế Tống Thần Tông, Tể tướng Vương An Thạch cũng làm y như khanh vừa nói nhưng mấy lần chuốc lấy thảm bại. Cái xứ Giao Chỉ nhỏ bé ấy tuy ít dân nhưng rất khó khuất phục. Đại Tống ta hai lần nhục nhã bởi Lê Đại Hành và Lý Thường Kiệt, nay vì sao Tả thừa tướng định lặp lại?
– Muôn tâu hoàng thượng, xứ Giao Chỉ đúng là cứng đầu khó trị. Nhưng từ sau khi triều đình Lý Càn Đức áp dụng chính sách cải cách kinh tế do Thái sư Lê Văn Thịnh đề xuất, nội triều sinh ra mâu thuẫn lục đục y như thời Tể tướng Vương An Thạch. Do thám của ta ở Thăng Long cấp báo, Lê văn Thịnh bị bắt giam hơn nửa năm nay. Quận vương Giao Chỉ Lý Nhân Tông ba mươi tuổi chưa có con trai nối dõi ngày đêm sa đà vào các trò du hí, cầu tự.
Hữu thừa tướng Thái Biên tham góp:
– Lời của Tả thừa tướng đại nhân thật đáng để tâm. Nhưng Lý Thường Kiệt vẫn còn đó. Đã từ mấy đời nhà Lý hắn là cây cột chống bảo vệ xứ ấy, không thể xem thường.
Tả thừa tướng Hứa Tương:
– Tại hạ cũng đã nghĩ đến điều đó. Nếu đại Tống ta xuất binh thì người đáng ngại nhất là Lý Thường Kiệt chứ không phải vua Lý. Nhưng năm nay ông ta cũng đã gần tám mươi rồi. Sức vóc, sức nghĩ không còn như trước nữa. Với lại thần cho rằng muốn chiếm được Giao Chỉ phải dùng mẹo kết hợp với sức. Đánh từ ngoài bằng quân sự và đánh từ trong ra bằng nội gián.
Tống Triết Tông rất để tâm lời tấu trình của Hứa Tướng:
– Tả thừa tướng nói rất hợp ý ta. Dân Giao Chỉ ngang bướng. Nếu dạy cho Giao Chỉ biết lễ phép với thiên triều thì chưa cần động binh lúc này. Song đánh nó để lấy của cải, đẩy nhanh kinh tế của ta thì nên làm. Vậy khanh nói rõ đánh từ trong nội bộ Giao Chỉ như thế nào?
– Muôn tâu hoàng thượng, tháng trước thần đã cho người sang Thăng Long. Thì ra cả một mạng lưới do thám của đại Tống ta do Tể tướng Vương An Thạch cài vào Giao Chỉ chưa được dùng tới. Tể tướng Vương An Thạch mất chức những mạng lưới đó chưa bị lộ. Nay ta dựng chúng dậy làm nội ứng bên trong.
– Vậy ai đang cầm đầu đội quân quý báu đó?
– Muôn tâu hoàng thượng, chủ Hội buôn người Hoa ở Thăng Long tên Đản Hớn đang nắm mạng lưới này.
Tống Triết Tông quá vui. Ông ta vỗ tay khen:
– Một tin thật tốt lành. Tả thừa tướng quả là rất nhanh nhẹn. Ta ban lời khen và ghi công đầu. Các khanh ai có ý kiến gì khác không?
Quần thần nhộn nhạo một hồi. Họ khá bất ngờ trước ý kiến của Hứa Tương. Không ai nói gì thêm. Tống Triết Tông hạ chỉ:
– Ta giao cho Hữu Thừa tướng Thái Biên, quan Nội thị Dương Úy và nhóm cải cách sáu người đốc thúc áp dụng “Tân pháp” mới. Các khanh hãy chọn việc gì cần làm trước. Việc gì chưa thể thì làm sau. Nhiệm vụ thôn tính xứ Giao Chỉ ta giao toàn quyền cho Tả Thừa tướng Hứa Tương.
Quần thần giập đầu lĩnh mệnh. Hứa Tương bẩm:
– Thần đội ơn hoàng thượng tin tưởng. Thần xin tiến cử hai tướng An Đảo và Chương Đôn chỉ huy cuộc chinh phạt này. Xin thánh thượng xuống chiếu phong An Đảo giữ chức tri phủ Quảng Tây, Chương Đôn tri phủ Vân Nam và ban lời khích lệ Đản Hớn.
Tống Triết Tông:
– Ta chuẩn tấu. Khanh và hai đại tướng nhanh chóng trình kế sách. Tả Thừa tướng được toàn quyền huy động quân dân, hậu cần vào cuộc xuất đại binh lần này. Nhưng ta phải nhắc lại. Nhất định phải thắng.
– Chúng thần tuân chỉ.
Vậy là bộ sậu mới của triều đại Tống Triết Tông không chỉ kế thừa các chính sách cải cách xã hội của Vương An Thạch mà chúng còn kế thừa một cách hung hăng hơn tham vọng thôn tính Đại Việt từ cái thây ma họ Vương.
… Tả thừa tướng nhà Tống Hứa Tương chuẩn bị cuộc xâm lăng Đại Việt kín đáo hơn Vương An Thạch. Hệ thống kho tàng xây dựng lùi sâu trong đất Tống. Hai viên đại tướng An Đảo và Chương Đôn được phong chức lớn. An Đảo tước tòng nhị phẩm, chức Tả hữu kim ngô vệ, kiêm tri phủ Quảng Tây. Chương Đôn tước tòng nhị phẩm, chức tả hữu vệ kiêm tri phủ Vân Nam. Ngoài việc cử hai viên tướng rất hiếu chiến cai quản hai phủ sát biên giới Đại Việt, Hứa Tương còn đặc biệt hy vọng vào mạng lưới do thám nằm ở Thăng Long. Đây sẽ là đòn “nội công ngoại kích” bất ngờ khiến Lý Thường Kiệt và triều đình nhà Lý không trở tay kịp.
Theo lệnh Hứa Tương, Chương Đôn cử người vào Đại Việt truyền khẩu dụ của Tống Triết Tông và mệnh lệnh của Hứa Tương tới Đản Hớn. Một ân huệ lớn chưa từng có của hoàng đế thiên triều với một thuộc hạ chưa có tên tuổi gì. Điều này chứng tỏ Tống Triết Tông coi trọng tới mức nào ổ do thám trong lòng Đại Việt.
Tin thám sát từ biên ải dồn dập truyền về. Quốc lão Thái úy Lý Thường Kiệt lại những đêm mất ngủ. Trong lễ triều kiến, Lý Thường Kiệt bẩm vua Lý Nhân Tông:
– Tâu đức vua, nhà Tống đang điều động quân đội. Hai viên đại tướng giỏi rất hiếu chiến từ mặt trận chống nhà Liêu và Tây Hạ được vua Tống giao cai quản Quảng Tây, Vân Nam là dấu hiệu chúng sẽ thôn tính nước ta.
Lý Nhân Tông nghe Quốc lão Thái úy Lý Thường Kiệt tâu, vua chưa có ý chỉ gì, Thái phó Hỏa Văn Ngọ đã xen ngang:
– Muôn tâu đức vua, tấu trình của Thái úy đại nhân về sự thay đổi quan lại của nhà Tống có ý nhằm vào Đại Việt ta nghe còn mù mờ lắm. Gần hai chục năm nay, bang giao hai nước đang tốt đẹp. Quốc phòng đất nước thì lúc nào cũng cần cảnh giác nhưng nếu vội vàng, quá chớn sẽ làm dân chúng hoang mang và ảnh hưởng đến quan hệ hai nước.
Hà Ngô Tự và Nguyễn Trực Nhẫn ngầm đưa mắt nhìn nhau. Quốc lão Thái úy im lặng. Ông biết chưa nên nói thêm gì vào lúc này. Các triều thần khác cũng phân vân. Lý Nhân Tông nói:
– Vua hai nước vẫn trao đổi văn thư bang giao. Ta cũng chưa nhận ra biểu hiện gì khác thường. Quốc lão Thái úy nên nắm thêm tình hình, song cần kín đáo. Đừng nôn nóng làm xáo động lòng quân.
Thái phó Hỏa Vân Ngọ là trọng thần hạng nhất phẩm. Sau khi trở thành thông gia với đức vua, tiếng nói của Hỏa Văn Ngọ càng thêm sức nặng. Hắn nói gì vua Lý Nhân Tông thường nghe theo. Sau lời tâu trình của Hỏa Văn Ngọ, cái đuôi của con cáo có vẻ đã lấp ló. Sự nghi ngờ của Lý Thường Kiệt ngày một lớn. Nó trùng với sự nghi ngờ của Thái sư Lê Văn Thịnh về viên Thái phó này. Quốc lão Thái úy lui một bước:
– Lão thần tuân chỉ.