Ngày Thái sư Lê Văn Thịnh gặp nạn, Doãn Hoàn Doãn theo lời khuyên của Hà Ngô Tự và Nguyễn Trực Nhẫn tạm lánh khỏi Thăng Long. Điện tiền chỉ huy sứ Vũ Uẩn, cùng đỗ kỳ thi năm Ất Hợi với Lê Văn Thịnh giúp nàng Doãn trốn trong một ngôi chùa nhỏ. Vũ Uẩn giữ chức Điện tiền chỉ huy sứ nên đi lại dễ dàng. Không ai dám sách hỏi. Ngày mới gặp, Doãn Hoàn Doãn nói với Vũ Uẩn:
– Thưa quan lớn, thân này đã là vợ anh Thịnh thì sẽ sống chết cùng chồng. Nay sự việc xảy ra quá đỗi bất ngờ, ác độc. Nếu anh Thịnh bị khép tội giết vua thì chín họ phải chết theo. Khó mà trốn nổi.
Vũ Uẩn đáp:
– Xin phu nhân đừng gọi tôi là quan lớn. Tôi là bạn bút nghiên của quan Thái sư. Lại là thuộc cấp. Quan Thái sư bị người ta vu oan, hãm hại. Vua cũng chưa khép tội gì, vì thế lúc này phu nhân tạm lánh, chờ xem minh tình ra sao.
– Thay mặt anh Thịnh tôi cảm tạ tấm lòng của các anh. Cho phép tôi xưng hô thân mật như thế.
Vài tuần sau, nghe minh tình vua không bắt tội ai là người thân của quan Thái sư, Vũ Uẩn nhờ vợ cùng người nhà cải dạng đưa nàng Doãn lên phủ Châu Phong:
– Thưa phu nhân, ngày càng nhiều người tin rằng quan Thái sư, trạng nguyên bị vu oan nên đức vua không ghép ai tội chết. Tuy vậy vẫn phải đề phòng kẻ ác. Tôi cho người nhà đón phu nhân lên Châu Phong. Trên đó kín đáo, phu nhân có điều kiện nghỉ ngơi.
Doãn Hoàn Doãn cảm động:
– Tôi vô cùng cảm tạ tấm lòng của các anh. Từ ngày anh Thịnh bị tội, tôi được các anh chị coi như em gái. Bảo vệ, chăm sóc. Thực lòng không biết lấy gì để trả ơn. Xin nghe theo mọi sự sắp đặt của anh chị.
– Sáng sớm mai sẽ lên đường. Phu nhân có dặn dò gì thêm không?
Doãn bảo:
– Không dám giấu anh, nỗi lo lắng bấy lâu. Cha, mẹ anh Thịnh khuất núi. Ruột thịt chỉ còn một người em gái tên Lê Hoàng Mai. Em Mai lấy chồng ở hương Từ Sơn. Tôi muốn về đó xem gia đình em có cơ sự gì không. Tôi đi nhanh về nhanh. Biết tin gia đình em Mai tôi mới yên lòng được.
Vũ Uẩn suy tính rồi bảo:
– Vậy thì chỉ mất thêm chút thời giờ. Đi theo lối đó đường vòng có khi ít bị để ý hơn. Mai vợ tôi đưa phu nhân về Từ Sơn. Giả làm dân buôn. Tìm được em Mai rồi thì nhanh chóng đi vào Sơn Nam rồi ngược lên Hưng Hóa.
– Vâng, như vậy sẽ không phải quay lại kinh thành.
Vũ Uẩn ái ngại nói:
– Tuy vậy nhưng chuyến đi dài sẽ khá vất vả. Mong phu nhân cố gắng.
– Xin anh yên tâm. Tôi cũng xuất thân từ nông thôn. Chịu được khổ.
Vợ Vũ Uẩn, Doãn Hoàn Doãn và những người cùng đi giả cánh đi buôn về hương Từ Sơn. Thật may, Doãn tìm được gia đình em Hoàng Mai. Cả nhà em chưa biết chuyện Lê Văn Thịnh bị bắt. Mai rụng rời hồn vía. Doãn bảo:
– Việc đã xảy ra rồi. Bây giờ chỉ còn trông vào sự giúp đỡ của Quốc lão Thái úy Lý Thường Kiệt và các anh Hà Ngô Tự, Nguyễn Trực Nhẫn, Vũ Uẩn.
– Liệu anh Thịnh có bị tội chết không chị?
– Anh Vũ Uẩn bảo đức vua cũng biết anh Thịnh bị kẻ xấu vu oan nên vua không xử ai tội chết. Nhưng đề phòng bọn chúng làm hại người thân của anh Thịnh. Chị sẽ lánh lên Châu Phong. Vợ chồng em cũng lánh tạm đi. Không nên ở lại đây nữa. Nhớ đi ngay đừng nấn ná.
– Vâng, em nghe lời chị. Chị nhớ giữ sức khỏe. Mong cả nhà mình lại được đoàn tụ.
Hai chị em ôm nhau trong nước mắt. Muốn nói thêm mà phải vội chia tay. Vợ chồng Lê Hoàng Mai đưa con chạy xuống châu Tô Mậu. Họ giấu mình trong một làng chài nghèo. Rồi sau đó đi đâu nữa không ai biết. Doãn Hoàn Doãn cùng người nhà Vũ Uẩn lên tới Hưng Hóa sau chuyến đi vòng vèo khá lâu. Mất cả tháng trời trong tâm trạng lo sợ. Nhưng trên đường không thấy lính triều đình truy xét, tìm người.
Đầy được Lê Văn Thịnh lên trại đầu Thao Giang, cái ghế Thái sư đầu triều bỏ trống. Bao nhiêu cặp mắt ngầm nhìn vào đó. Quần thần đều đoán rằng vua Lý sẽ trao nó cho Thái phó Hỏa Văn Ngọ. Khó ai có thể tranh được với ông ta. Hỏa Văn Ngọ lập phe cánh. Dồn tâm sức vào cuộc sắp xếp lại triều chính. Cung đình nhà Lý nín thở chờ. Nhưng đã gần nửa năm cái ghế Thái sư vẫn bỏ trống.
Đô thống nguyên soái Nguyễn Trực Nhẫn, Tả tham tri chính sự Hà Ngô Tự cùng Điện tiền chỉ huy sứ Vũ Uẩn cũng rất quan tâm đến việc ai sẽ ngồi lên cái ghế đó. Nếu Hỏa Vân Ngọ leo lên được thì mạng sống của Thái sư Lê Văn Thịnh khó mà giữ nổi. Một nỗi lo khác, nếu đúng Hỏa Vân Ngọ bị Đản Hớn khống chế thì vận mệnh Đại Việt cũng rất nguy nan.
Từ Trại đầu Thao Giang về kinh thành, Nguyễn Trực Nhẫn tới ngay nhà riêng Hà Ngô Tự. Chủ nhà chưa kịp hỏi, Nguyễn Trực Nhẫn hồ hởi nói:
– Đệ vừa từ trên ấy về là đến đây ngay.
Hà Ngộ Tự cầm tay bạn:
– Quan Thái sư sống thế nào?
– Huynh yên tâm. Khiêm Tản thực hiện rất tốt lệnh của Quốc lão Thái úy. Đệ cũng không ngờ Thái sư nhanh chóng hòa nhập với cuộc sống lưu đầy nhanh thế. Huynh ấy hiện ở trong một bản người Mường. Thái sư mở lớp dạy học, chế thuốc chữa bệnh. Dân bản quý ông lang Thịnh lắm.
Hà Ngô Tự ngỡ ngàng:
– “Ông lang Thịnh”. Họ gọi quan Thái sư là ông lang Thịnh?
– Vâng. Họ không biết Thái sư là đại quan đầu triều, trạng nguyên khai khoa.
Hà Ngô Tự thốt lên khâm phục:
– Ôi, Thái sư. Trạng nguyên, Thái sư… Ở đâu, trong hoàn cảnh nào Người vẫn là một thần nhân. Đệ thật mừng cho huynh.
Nguyễn Trực Nhẫn chen lời:
– Đúng vậy. Dân bản Thu Cúc coi quan thái sư là người trời. Từ ngày Thái sư bảo học, chữa bệnh bản Thu Cúc như có ánh sáng soi trên vùng đất bao năm nay tăm tối. Dân bản không còn cúng ma, nhờ thầy mo chữa bệnh nữa. Đàn bà đẻ “mẹ tròn con vuông”, không ai bị chết nữa.
Hà Ngô Tự vui lây niềm vui có phần thái quá của bạn. Ông hỏi:
– Nhưng việc ưu ái của Khiêm Tản với quan Thái sư liệu có hại gì đến ông ta không?
– Huynh yên tâm. Khiêm Tản làm theo khẩu lệnh của Quốc lão Thái úy qua ngu đệ.
Hà Ngô Tự hỏi:
– Công việc của đệ bên Văn ban, khó có cớ lên thăm quan Thái sư. Thật mừng huynh ấy đã tìm được niềm vui mới. Quan Thái sư có căn dặn gì thêm không?
Nguyễn Trực Nhẫn chợt như tỉnh ngủ:
– Đệ vui quá quên mất. Quan Thái sư nhắc huynh đệ ta phải theo dõi chặt mọi hành tung của Đản Hớn và Hỏa Văn Ngọ. Thái sư tin rằng ở Thăng Long có cả một mạng lưới do thám của nhà Tống cài vào từ thời Vương An Thạch. Quan Thái sư cũng nhờ huynh đệ ta tìm Doãn phu nhân cùng gia đình em Hoàng Mai.
Hà Ngô Tự bảo:
– Nếu quan Thái sư tin như thế thì Hỏa Văn Ngọ rất có thể đã bán mình cho giặc. Quan Thái sư còn sống thì hắn còn lo sợ.
Nguyễn Trực Nhẫn:
– Chúng ta phải nhanh hơn bọn chúng. Trong lúc Hỏa Văn Ngọ đang mê mẩn mơ cái ghế Thái sư, ta phải tìm ra tội phản quốc của hắn.
Hà Ngô Tự:
– Huynh vẫn phải cảnh báo cho Khiêm Tản. Cử thêm người bảo vệ quan Thái sư.
Nguyễn Trực Nhẫn nói:
– Trại đầu Thao Giang thuộc võ ban, nằm dưới quyền Quốc lão Thái úy. Bọn người muốn hại Thái sư không dễ mà ra tay ở đó. Đệ sẽ tăng cường đề phòng như huynh bảo.
Hà Ngô Tự trầm tư, lúc sau hỏi Nguyễn Trực Nhẫn:
– Huynh có biết thêm tin gì về Doãn phu nhân?
– Theo đệ biết, Doãn phu nhân lánh trên quê Điện tiền chỉ huy sứ Vũ Uẩn. Vừa rồi quan Thái sư hỏi, đệ cũng chưa dám nói cụ thể. Chờ huynh Vũ Uẩn đi tuần duyên về đệ sẽ lên thăm phu nhân.
Hà Ngô Tự bảo:
– Huynh Vũ Uẩn thật tốt, có dũng khí. Xứng là người học chữ thánh hiền. Từ ngày quan Thái sư gặp nạn, đệ đau xót, trăn trở cho Doãn phu nhân và em Hoàng Mai quá. Giờ có lẽ đến lúc huynh đệ ta tìm Doãn phu nhân đưa lên Thao Giang đoàn tụ cùng quan Thái sư.
Nguyễn Trực Nhẫn mừng vui bảo:
– Làm được việc ấy thì thật quá an lòng.
Hà Ngô Tự:
– Huynh đệ ta cố làm được gì cho quan Thái sư thì nhẹ lòng bấy nhiêu. Lúc nào có tin về Doãn phu nhân và em Mai thì nhớ cho đệ biết ngay.
Một ngày đẹp trời, nắng rực vàng mầu mật. Cái khí lạnh của núi giữa ánh nắng chan hòa khiến người ta cảm thấy dễ chịu. Ông lang Thịnh khoác gùi lên vai. Dao buộc thắt lưng, để vào gùi lọ dầu đuổi vắt, ống bương đựng nước và nắm lá chữa rắn cắn. Giờ trông ông chả khác gì một già bản người Mường. Sải bước vào rừng, hôm nay đến ngày đi hái thuốc. Từ ngày lên sống ở Thu Cúc, ông lang Thịnh giúp bản thay đổi rất nhiều. Trẻ con biết chữ. Người dân hiểu dần ra cái khí xấu, nước độc làm ốm người, vật chết người không phải do con ma hay ông trời giận dữ gây ra. Cuộc sống mới cũng giúp Lê Văn Thịnh quên dần đi nỗi bất hạnh giáng xuống đời ông.
Con đường đi hái thuốc đã quá quen thuộc với ông lang Thịnh. Đi bao nhiêu lâu thì đến? Mặt trời treo đến đâu thì cây thuốc hợp đủ ánh sáng? Từ vườn thuốc về đến nhà cữ nào trong ngày? Hôm nay ông sẽ hái cây thuốc nào cho cái kho thuốc của mình? Ai trong bản đang ốm, đau xương khớp? Sắp tới nhà nào có đàn bà đẻ bắt con? … Ông sắp xếp cả trong đầu. Thu Cúc đã gắn bó với ông lang Thịnh như quê hương cật ruột. Vì thế làm gì cho dân bản ông đều đem theo tình cảm ấy.
Ông lang Thịnh tợp vào làn gió trong lành mát rượi từ dòng Thao Giang ùa lên. Gió tươi mởn như đợi đón ông. Mở phanh ngực áo. Hai tay dang rộng, mắt nhắm lại. Để cho luồng khí trời thanh sạch ngấm tới từng chân tơ, kẽ tóc, ông bước xuống cái “vườn thuốc trời”. Từ ngày phát hiện ra khu đất mọc rất nhiều cây thuốc này, Lê Văn Thịnh gọi đó là “vườn thuốc trời”. Đúng là trời cho ông. Của riêng ông. Mỗi chuyến đi, ông lang Thịnh dành thì giờ chăm sóc vườn thuốc. Dựng những cây bị thú rừng làm đổ. Cắm cọc cho cây thuốc non làm chỗ dựa. Ngắt bỏ những lá già, lá bị sâu đục… Ông say sưa chăm chút cho vườn thuốc của mình như chăm những đứa con thơ. Ông biết tính nết từng cây thuốc. Dược tính đạt tới độ hiệu nghiệm nhất cũng còn nhờ ở độ “chín”, độ già của mỗi cây.
Gần trưa, ông nghỉ tay. Hôm nay lòng tự nhiên thấy vui. Thuốc hái nhiều, gùi thuốc nặng. Ông nhấc nó lên một mỏm đá thấp. Ông không còn trẻ để xốc lên vai như một chàng trai. Tâm trạng hứng khởi hơn mọi ngày. Ông lang Thịnh lồng hai cánh tay vào gùi, vịn vách đá đứng lên. Xốc xốc vài cái cho êm lưng. Hai đầu dây gùi buộc chặt vào bụng. Chuyến về sẽ mệt hơn. Đường sẽ dài hơn. Nhưng ông cố. Dân bản đang cần những cây thuốc này.
Như một con la cần mẫn sải từng bước nặng. Tới hẻm núi quen thuộc, chỗ có một vạt đá nhẵn, bằng phẳng mặt trời đã xối thẳng xuống đỉnh đầu. Từ đó về đến Thu Cúc còn một thôi đường nữa. Dễ đi hơn rồi. Ông đặt gùi xuống nghỉ. Chuyến nào hái thuốc ông cũng nghỉ ở phiến đá này. Mở nút ống bương nước, tu một hơi thật đã. Mồ hôi túa ra làm ông tỉnh táo. Ông lang nheo mắt nhìn. Vào ngày đẹp trời từ đây có thể nhìn thấy bản Thu Cúc. Khói bếp tỏa trắng yên bình. Chiều nay theo hẹn, già bản sẽ dẫn thanh niên đến giúp ông phân loại, thái thuốc. Sáng mai thuốc sẽ phơi kín trên các phiến đá quanh ngôi nhà sàn nhỏ của ông. Nhìn cảnh đó thật vui. Mai cũng là ngày ông dạy bọn trẻ học. Công việc của ông lang từ vài tháng nay cứ đều đặn như thế. Không ai thúc ép song chẳng lúc nào hết việc.
Ông lang Thịnh lấy việc để khỏa lấp nỗi buồn. Ông vui mỗi khi cứu chữa khỏi một người bệnh. Thầy giáo Thịnh vui khi nhìn vào ánh mắt những đứa trẻ trong veo hồ hởi cất tiếng đọc bài. Chỉ lúc đêm sâu, một mình trong ngôi nhà đầy gió ông lại quặn lòng nghĩ tới vợ, nghĩ tới em gái. Doàn Hoàn Doãn bây giờ ở đâu? Nàng còn sống hay nhớ thương phẫn uất quá mà chết rồi? Vợ chồng em Mai giờ ở đâu? Có gặp trắc trở gì không? Người dân Bảo Tháp nghĩ về ông thế nào?
Gần tháng trước già bản Bùi Điểu đến chơi. Già ngồi rất khuya đắn đo mãi rồi bảo:
– Thày giáo Thịnh ơi. Tao muốn mày bắt cái vợ đi. Đàn ông ở một mình mãi thế này khổ lắm.
– Đa tạ lời khuyên của già, nhưng thân tù tội không dám nghĩ đến chuyện ấy.
– Thầy giáo đừng bảo mình là tù tội nữa. Ở bản này bao nhiêu con gái thương thày lắm. Tao biết mà. Nhìn cái má nó lúc nói chuyện. Nhìn cái mắt nó lúc liếc thầy. Tao làm mối cho. Thầy ưng bụng đứa nào, cả bản sẽ cưới nó cho thầy. Cưới thật to.
Lê Văn Thịnh nghe già bản khuyên lòng rất vui. Dân bản thương ông. Nhưng già bản, các cô gái Mường xinh đẹp, đáng yêu hiểu sao được tâm sự của ông. Không ai có thể lấp đầy nỗi trống trải mà nàng Doãn để lại trong cuộc đời ông.
… Mải nghĩ vẩn vơ, mặt trời đã lệch về hướng tây. Ánh nắng gắt hơn. Đá núi nhóng nhánh bỏng rát. Ông lang Thịnh loay hoay khoác lại gùi thuốc lên vai. Chợt nghe bên kia vỉa đá tiếng già bản Bùi Điểu nói với ai đó:
– Sắp tới rồi. Chỉ nửa cái quăng dao nữa thôi. Ông lang chỉ về một đường này thôi. Hôm nay muộn thế chắc ông lang tham hái nhiều thuốc.
Giọng quen quen:
– Già ơi, thế trai bản không đi hái thuốc giúp ông lang Thịnh à?
– Có chứ. Muốn đi giúp thầy chứ, nhưng chuyến nào cần ông lang mới cho đi. Ông lang Thịnh bảo cây thuốc cũng có tình cảm, suy nghĩ giống người đấy. Ai không hiểu cây thuốc, không biết quý cây thuốc, chặt, hái bạo, làm cây đau thì cây giận không chữa được bệnh đâu.
Lê Văn Thịnh thấy tim mình đập dội. Lại có tiếng phụ nữ. Hình như…? chẳng lẽ…? Ông cuống quýt bỏ gùi thuốc. Bước gấp gáp. Đúng rồi, Lê Văn Thịnh nhận ra giọng nói của Vũ Uẩn. Sau già Bùi Điểu lại còn ai nữa. Tiếng Bùi Điểu làm ông choáng váng:
– Đây rồi, đến rồi. Qua chỗ ngoặt kia thì chờ. Ông lang chắc cũng sắp ra đến nơi đấy. Bà chân yếu thế có leo được không hay đợi ở đây.
– Tôi đi được. Già cứ cho tôi đi.
Lê Văn Thịnh không tin vào tai mình. Tay chân bủn rủn. Ông vịn vào mép đá. Vợ ông. Đúng là tiếng Doãn. Cùng lúc ba người cũng nhận ra ông lang Thịnh. Vũ Uẩn lao tới đỡ miệng thốt lên:
– Quan Thái sư đại nhân.
Nàng Doãn lao tới, nức nở:
– Tướng công, tướng công ơi. Em đây. Doãn Hoàn Doãn của anh đây.
Doãn ôm chặt Thịnh. Già bản ngớ người. Vũ Uẩn vội kéo ông lão lùi lại. Già bản hổn hển hỏi:
– Bà ấy, bà ấy?
– Vâng. Doãn phu nhân vợ của quan Thái sư đại nhân đấy. Quan Thái sư, trạng nguyên Lê Văn Thịnh đấy.
Ông lão càng hốt hoảng:
– Thế ông lang Thịnh của dân bản Thu Cúc là quan Tể tướng của triều đình à?
– Đúng vậy ông lão. Thái sư bị bọn người xấu vu oan, khép tội nặng đầy lên đây. Thái sư không có tội. Thái sư giỏi lắm, tốt lắm.
Già bản Bùi Điểu hất tay Vũ Uẩn ra. Chạy đến trước mặt Lê Văn Thịnh quỳ mọp. Đầu đập xuống đá:
– Xin quan Tể tướng tha tội chết cho già này. Thật là có mắt như mù. Bao ngày Tể tướng sống với dân bản mà già này không biết núi Thái Sơn trước mặt. Ôi dân bản Thu Cúc ơi. Trời đem quan Tể tướng đến giúp bản ta mà không ai biết. Thật là đắc tội.
Vũ Uẩn đỡ già Bùi Điểu đứng lên. Thịnh nói:
– Già làm gì thế này. Chính ta mới phải đa tạ già và dân bản cưu mang, bảo vệ. Nào già đứng dậy để ta giới thiệu.
Lê Văn Thịnh ôm chặt Vũ Uẩn, rồi quay ra nói:
– Đây là quan Điện tiền chỉ huy sứ Vũ Uẩn, còn nàng Doãn, phu nhân của ta.
Doãn Hoàn Doãn thu tay, cúi gập người cảm ơn già bản Bùi Điểu. Vũ Uẩn nhấc gùi thuốc lên vai. Họ cùng về bản. Nàng Doãn cứ ôm chặt lưng chồng không chịu rời ra.