Căn phòng chủ soái rộng hoác ra, Lý Thường Kiệt biết đêm nay sẽ như nhiều đêm khác, ông không chợp mắt nổi. Là bậc chiến tướng từng nam chinh bắc phạt, Lý Thái úy biết rất rõ thế chủ động trên phòng tuyến sông Như Nguyệt nay đã chuyển sang tay Đại Việt. Quách Quỳ, Triệu Tiết không còn cơ hội. Nhưng đánh chúng bây giờ không phải là những trận chiến trực tiếp nữa mà là cuộc đấu trí. Đòn cân não này ông trông đợi cả vào Binh bộ Thị lang Lê Văn Thịnh.
Cuộc đời dằng dặc bão tố chiến chinh. Mỗi lần đứng trước chiến thắng Lý Thường Kiệt lại sa vào tâm trạng khó tả. Vui thì hẳn là vui. Nhưng nỗi buồn riêng cũng chen vào. Tựa bên cửa sổ, nhìn dòng sông Thiên Đức xa xa như dải lụa ngà mềm mại. Ông thốt lên: “Ôi non sông Đại Việt đẹp biết bao. Bọn cường đồ Trung Hoa đã bao lần muốn chà đạp lên vẻ đẹp này”. Sau chiến dịch “Tiên phát chế nhân” nếu Tống Thần Tông và Vương An Thạch hiểu ra thì đâu đến thảm bại cho nhà Tống như lần này. Và ông cũng được nhàn hạ tấm thân già.
Nghĩ đến đó, Lý Thường Kiệt như thấy gân cốt mình đã bắt đầu cựa. Bao trận đánh thời tiên đế Lý Thánh Tông, tuy vua coi ông là cánh tay phải, là thanh gươm, lá chắn bảo đảm an nguy cho xã tắc, nhưng dẫu sao ông cũng còn có chỗ dựa vào vị vua hùng lược ấy. Giờ Lý Càn Đức mới 11 tuổi. Hoàng Thái phi Ỷ Lan là một người đàn bà tài giỏi và khôn khéo. Song không thể cùng ông gánh vác việc binh đao. Ỷ Lan đặt toàn bộ niềm tin vào ông. Thời gian Thái sư Lý Đạo Thành bị biếm chức, ông gánh thêm cả trách nhiệm điều hành chính sự. Cầm nắm quân đội hùng mạnh trong tay, mệnh lệnh của ông không một ai dám không tuân. Đã có không ít kẻ nghĩ ông sẽ phế bỏ nhà Lý, nhưng ông không có tham vọng và nhu cầu nào ngoài việc tận tâm tận lực giữ gìn sự an bình cho Lý triều. Ông luôn nghiêm cẩn giữ lễ vua tôi. Làm trọn lời hứa của của mình với đức vua và Hoàng Thái phi nhiếp chính. Lòng trung trinh sáng ngời của Lý Thường Kiệt khiến cho bao kẻ có lòng dạ hôn ám phải kính sợ. Triều đình nhà Tống, các nước lân bang đều nể phục.
Nhưng là người khỏe mạnh, sáng láng, trí lự Lý Thường Kiệt không thoát khỏi nỗi buồn của số phận. Lan man nghĩ, kỷ niệm riêng chôn chặt bao năm nay bỗng dưng thức dậy trong lòng vị tướng già. Thời gian vùn vụt trôi, tưởng đã qua đi mà nó vẫn trỗi dậy mỗi khi tâm trạng ông rơi vào khoảnh khắc đặc biệt như lúc này.
Chiến thắng đã ở trước mắt. Rồi sẽ lại tung hô, vinh danh, khen thưởng… Lý Thường Kiệt đã quá quen với không khí đó. Nó thật cần để tưởng lệ các tướng sĩ đã bỏ mình vì đất nước. Nó là sự khích lệ của triều đình đối với muôn dân và quân sĩ nỗ lực giữ gìn non sông Đại Việt. Nhưng với ông, sự tưởng lệ, khen thưởng nào cũng không khỏa lấp được nỗi buồn.
Chợt bàn tay Lý Thường Kiệt đặt lên ngực trái. Ngay chỗ con tim, bên trong tấm áo giáp chiến bào. Ông xoa xoa nhè nhẹ. Rồi vỗ vỗ như cưng nựng. Một hành động vô thức. Bao nhiêu lần ông làm thế đã trở thành thói quen.
…
Ngày vua Lý Thái Tông gặp Ngô Tuấn, tự Thường Kiệt, chàng trai mới hai mươi ba tuổi. Nhìn Ngô Tuấn mặt mày sáng láng, tráng kiện, đĩnh đạc đức ngài ngự đặc biệt có cảm tình. Như Lý Thái Tông nói sau này, không hiểu sao ngài nghĩ có thể đặt trọn vẹn niềm tin vào Ngô Tuấn. Vua bảo:
– Ta muốn khanh luôn bên cạnh ta. Nhưng ta cũng biết khanh đã có vợ. Ta không nài ép. Để tùy khanh quyết định. Cho dù khanh từ chối ta cũng không bắt tội đâu
Ngô Tuấn sửng sốt. Buồn vui lẫn lộn. Biết vua Lý Thái Tông là người nhân hậu. Ngô Tuấn quỳ bẩm:
– Muôn tâu đức vua, lòng yêu mến tin tưởng của bệ hạ suốt đời này tiểu nhân không biết lấy gì để báo đáp. Tiểu nhân…tiểu nhân…tiểu nhân…
Ngô Tuấn lúng túng muốn tâu thật lòng mình nhưng không dám nói. Không ai dám từ chối trước mặt vua một vinh hạnh như thế. Thấy Ngô Tuấn bối rối, vua Lý Thái Tông cười thân thiện:
– Khanh cứ suy nghĩ kỹ đi. Ta bảo sẽ không bắt tội mà.
Ngô Tuấn được đức vua yêu quý tin tưởng như thế là niềm vinh hạnh lớn của cả dòng họ Ngô. Nhưng Cha, mẹ Ngô Tuấn rất buồn đau trước sự bất hạnh của con. Là một nhà Nho, ông nói với con trai:
– Ý vua là ý trời. Vua không nói chơi.
Ngô Tuấn thưa:
– Cha ơi, dẫu thế nhưng con đã có vợ. Nàng Thường Khanh sẽ không chịu nổi khi biết tin này. Con không muốn.
Cha Ngô Tuấn nặng nề đứng dậy. Ông thở dài lắc đầu. Vậy là con trai ông sẽ phải “tịnh thân” để kề cận bên vua. Đó là định lệ của triều đình. Không ai dám kháng mệnh.
… Thường Khanh nghe tin Ngô Tuấn được vua Lý Thái Tông chọn làm người kề cận, lúc đang ở quê ngoại. Nàng chết ngất. Vậy là mất chồng. Người chồng mà nàng yêu hơn bản thân mình. Cuộc sống riêng của họ đang vô cùng hạnh phúc, tràn đầy niềm vui. Vợ chồng Ngô Tuấn đã mơ tới những đứa con. Mơ nghe thấy tiếng trẻ nô đùa… Thường Khanh hiểu thế là hết. Chồng nàng sẽ không dám cưỡng lại ý chỉ của vua. Biết nói gì với nhau lúc này nữa. Ngô Tuấn là một trang nam nhi tài giỏi, tình cảm, thương vợ. Nhìn Ngô Tuấn buồn, Thường Khanh không chịu nổi. Thà mình chịu thiệt thòi còn hơn thấy chồng đau khổ. Thường Khanh không bao giờ muốn Ngô Tuấn phải vì mình mà khó nghĩ. Tình cảm ấy Thường Khanh luôn mang trong lòng từ khi lấy Ngô Tuấn. Đã không thể chống lại lệnh vua, nàng còn bên cạnh, Ngô Tuấn sẽ không biết xử theo bề nào. Chống lệnh vua là nhận cái chết. Lòng ngổn ngang trăm bề, thà một lần đau, rồi cũng phải qua. Thường Khanh quyết định không gặp lại Ngô Tuấn. Nàng bỏ đi không một lời chia tay. Ngô Tuấn mất vợ khi còn chưa trở thành thái giám.
Đêm ấy mưa rất to, Thường Khanh chạy đến chùa Hòe Nhai. Ngôi chùa mà nàng vẫn thường đến lễ Phật tụng kinh. Đã vài lần Ngô Tuấn đi cùng vợ. Cái duyên đưa Thường Khanh đến với ngôi chùa này từ khá lâu rồi. Ni cô Liên Từ trụ trì chùa rất yêu quý và coi nàng như con gái. Thường Khanh luôn cảm thấy mình có duyên với nhà Phật. Có căn tính tu hành. Thường Khanh sụp xuống:
– Xin mẹ hãy xuống tóc cho con. Ngay bây giờ. Con quyết rồi. Cuộc đời này con xin dâng Phật.
– Con ta có chuyện gì mà đau đớn đến thế này?
Thường Khanh gục vào lòng ni sư Liên Từ khóc. Khóc cằn cặt. Khóc đã đời. Lần khóc cuối cùng ở cõi tục.
Ni sư Liên Từ nghe thấu chuyện. Bà chảy nước mắt vỗ về. Ni cất lời khuyên như lẽ thường của mẹ với con. Nhưng ni cũng biết Thường Khanh không còn cách nào khác.
… Một lễ xuống tóc giản dị, trang nghiêm. Trước lúc bước chân khỏi chùa, Thường Khanh lạy ni sư. Cái lạy lánh đời. Cái lạy vĩnh biệt. Rồi nàng vụt vào đêm. Bóng nàng nhòa nhợt trong màn mưa. Màn mưa hay màn nước mắt của hai người đàn bà trong cái đêm buồn tủi ấy.
Thường Khanh đi rồi, ni sư Liên Từ cũng không muốn đi nghỉ nữa. Ni thắp nến, tụng kinh cầu cho Thường Khanh đừng gặp rủi ro trên đường. Đừng quẫn trí làm hại đến thân mình. Cầu xin cửa Phật mở lòng từ bi đón nhận đứa con bất hạnh. Tiếng mõ xói vào đêm sâu thảng thốt, buốt lòng:
Cốc…cốc…cốc…
“… Kính lạy mười phương Phật/ Kính lạy mười phương Pháp/ Kính lạy mười phương Tăng/ Xin chứng giám lòng con/ Dâng lên lời khấn nguyện…
Cốc… cốc…cốc…
Kính lạy mười phương Phật/ Con đau khổ nhiều rồi/ Đắng cay và mỏi mệt/ Nay con xin lời nguyện/ Giải thoát quyết tìm về/ Giác ngộ quyết lìa mê/ Độ sinh đền ơn Phật/ Xin cho con giữ vững/ Được chí nguyện tu hành/ Không một phút buông lơi/ Không một giờ sao nhãng…
Cốc…cốc…cốc…
Nguyện cho con đi mãi/ Không dừng lại giữa đường/ Đến tuyệt đối vô biên/ Tâm đồng tâm chư Phật…Cúi xin mười phương Phật/ Xin chứng giám lòng con/ Lời khấn nguyện sắt son/ Dâng lên ngôi tam bảo…”
Cốc…cốc…cốc…cốc …cốc… cốc…
… Mưa quất ràn rạt. Gió căm căm. Tiếng mõ từ chùa Hòe Nhai như nỗi lòng của ni sư Liên Từ đuổi theo bước chân tức tưởi của Thường Khanh. Bước chân vô định trong cái đêm vô thường ấy.
Đêm nghiêng về sáng, ni sư nghe tiếng gọi hối hả. Ngô Tuấn và Thường Hiến ướt sũng như chuột lột. Cùng một đêm mưa gió vợ chồng Ngô Tuấn đến chùa trong nỗi thương đau, vò xé. Ngô Tuấn thảng thốt:
– Ni ơi. Thường Khanh có đến đây không ni? Đệ tử tìm khắp nơi không thấy. Thường Khanh có đến đây không ni?
Ni sư Liên Từ bảo hai anh em hãy hơ tay vào cái chậu than hồng cho đỡ cóng. Bà nghĩ cũng không nên giấu Ngô Tuấn. Chuyện Ngô Tuấn được đức vua tin yêu cho được kề cận bên ngài; chuyện Thường Khanh tức tưởi xuống tóc và trốn chạy số phận trớ trêu… đều là do duyên sinh cả. Không ai có lỗi. Đó là nhân quả từ kiếp nào. Nhưng với Ngô Tuấn và Thường Khanh thì đây là bất hạnh không dễ vượt qua. Lời ni nhẹ nhàng:
– Nam mô A Di Đà Phật. Thường Khanh có đến đây.
Ngô Tuấn cướp lời:
– May quá, nàng đâu. Ni ơi, nàng đâu?
Ni sư Liên Từ thong thả đứng dậy, bà châm thêm tuần hương:
– Đến từ chập tối. Nhưng đi rồi. Bần tăng cũng không biết Thường Khanh đi đâu.
Ngô Tuấn giơ tay lên đầu nắm tóc giật giật, vật vã. Ngô Thường Hiến bình tĩnh hơn:
– Ni ơi. Chị Thường Khanh không nói là đi đâu ạ.
Ni sư Liên Từ lắc đầu. Bà lại đứng lên, bước vào trai phòng. Lúc sau trở ra trên tay cầm cái túi mầu xám. Một lọn tóc dài óng mượt đã được Ni sư chải gọn, buộc chặt. Ngô Tuấn vồ lấy. Đúng mái tóc của Thường Khanh. Vợ yêu của chàng. Đã bao lần Ngô Tuấn hạnh phúc khi vuốt ve mái tóc đen nhưng nhức này. Chàng tưởng mình có thế nhớ được có bao nhiêu sợi. Sợi nào ngả mầu. Khi có sợi phải nhổ bỏ, Ngô Tuấn còn tiếc hơn cả Thường Khanh.
Ngô Tuấn ôm lọn tóc ghì chặt vào ngực nấc lên khô khốc: “Thường Khanh ơi Thường Khanh? Sao em nỡ bỏ anh mà đi không một lời tiễn biệt? Thường Khanh ơi Thường Khanh?”.
Ngô Thường Hiến đỡ anh. Hai cái bóng nghiêng đổ nhập nhọa trong màn mưa. Ni sư Liên Từ đứng nhìn theo hồi lâu. Gạt nước mắt quay vào. Tiếng mõ, tiếng tụng kinh lại vống lên nhức buốt đêm mưa ấy tới sáng:
…“Nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật/ Nam mô Pháp…Nam mô Tăng…”
Cốc…cốc…cốc…Cốc…cốc…cốc…Cốc…cốc…cốc…
Ngô Tuấn lần mò tới các ngôi chùa trong kinh thành Thăng Long. Lòng ngổn ngang bao ý nghĩ. Có lần chàng định nếu tìm được Thường Khanh sẽ cùng nàng trốn biệt tăm, biệt tích nơi rừng thẳm, núi cao nào đó. Chàng sẽ kháng lệnh vua. Nhưng bóng dáng người vợ yêu cứ mãi thăm thẳm. Chàng lăn ra ốm. Cha, mẹ người thân buồn đau cùng nỗi bất hạnh của Ngô Tuấn.
Vua Lý Thái Tông ban cho Ngô Tuấn quốc tính. Nhận ông làm nghĩa đệ. Coi ông là người hoàng tộc. Cho ông được hầu cận bên cạnh vua… là sự ưu ái và tin tưởng tuyệt đối mà hiếm ai ngoài vương triều Lý có được. Nhưng vua Lý
Thái Tông đâu biết đó cũng là cái ngày ngài làm chảy máu trái tim ông. Với bao người đó là niềm vinh hạnh. Song với Lý Thường Kiệt nó là nỗi đau. Nỗi đau không của riêng ông. Bất hạnh nhất là người vợ yêu của ông. Mỗi lần nghĩ đến Thường Khanh, trái tim Lý Thường Kiệt lại nhức buốt. Chiến trận và công việc trụ đỡ non sông khiến ông quên đi. Nhưng đêm nay nó lại trở về. Lý Thường Kiệt dần phải quen với ý nghĩ đó là số phận. Đã là số phận thì phải chịu không ai cưỡng lại được. Ông bám vào đó để biện giải cho mình mỗi khi nhớ tới Thường Khanh. Mỗi khi trong cuộc sống gặp trắc trở. Thậm chí cả lúc quá buồn.
…
Mùi hương trầm phảng phất kéo Lý Thường Kiệt về với thực tại. Phía sau lưng ông không xa là kinh đô Thăng Long. Là quê cha đất mẹ. Nơi chôn rau cắt rốn của ông. Trên trời chợt vọng lên tiếng gọi nhau của đàn sếu. Vậy là trời sáng rồi. Hết một đêm rồi. Một đêm đặc biệt. Lý Thường Kiệt trở lại điều canh cánh trong lòng. Cách gì khiến giặc Tống rút quân càng nhanh càng tốt. Ông không muốn giao chiến nữa. Không muốn máu phải đổ nữa. Đại Việt là nước nhỏ, người ít. Tạo hóa đặt con dân Đại Việt bên cạnh một kẻ to lớn đông dân, tham vọng bành trướng ngông cuồng như Trung Hoa thì bao giờ cũng phải khôn khéo. Làm cho nhà Tống từ bỏ dã tâm xâm lược, đó là thắng lợi lớn nhất. Đó mới là kế giữ cho đất nước được hưởng thái bình dài lâu. Lý Thường Kiệt học được từ tiên tổ điều đó.