Hoàng Thái phi Ỷ Lan và vua Lý Nhân Tông triệu các đại thần trọng yếu bàn kế chống giặc. Dự bàn có Thái úy Lý Thường Kiệt, Thái phó Lý Đạo Thành, Binh bộ Thị lang Lê Văn Thịnh cùng các vị thủ lĩnh, động chủ miền biên viễn: Lưu Kỳ, Thân Cảnh Phúc, Vi Thủ An… Các hoàng thân vương tử: Hoằng Chân, Chiêu Văn và tướng Lý Kế Nguyên .
Hoàng Thái phi nhiếp chính Ỷ Lan nói:
– Nhà Tống chuẩn bị một đạo quân rất lớn hòng xóa bỏ Đại Việt ta. Âm mưu của chúng đã được dự đoán từ trước. Nay giặc sắp vào nhà, đức vua và ta mời các tướng soái cùng bàn phương lược cự giặc. Xin mời Quốc lão Thái úy.
Lý Thường Kiệt thưa:
– Tâu Hoàng Thái phi, tâu đức vua. Tống Thần Tông phát chiếu thư kể tội ta đem quân vào đất Tống, đó chỉ là cái cớ. Âm mưu biến nước ta thành phủ, châu của chúng đã ủ từ lâu. Tống Thần Tông không che giấu ý đồ đưa Đại Việt ta trở lại thời kỳ lệ thuộc vào
Trung Quốc. Sức giặc lần này rất lớn. Vì thế chúng sẽ chọn cách đánh nhanh thắng nhanh ngay từ trận đầu.
Thái sư Lý Đạo Thành:
– Vậy kế sách của Thái úy đại nhân sẽ chặn giặc như thế nào?
– Địch muốn thắng nhanh sẽ kéo ta đánh nhanh theo chúng. Sức Đại Việt mỏng. Nếu bị cuốn theo, chúng ta sẽ cầm chắc thất bại. Vì vậy phải đánh kéo dài. Giam chân và tiêu hao lực lượng giặc từ trên biên ải. Chia nhỏ lực lượng của giặc. Quân Tống vào nước ta là đối mặt với muôn sự khác lạ, rủi ro. Ở lâu mà không đánh được tự chúng sẽ sinh biến.
Vua Lý Nhân Tông hỏi:
– Vậy quân binh của ta huy động được bao nhiêu người?
Một câu hỏi đầy chững chạc của vị vua nhỏ tuổi khiến quần thần đều rất vui. Lý Thường Kiệt thưa:
– Tâu đức vua, toàn bộ lực lượng của ta chỉ bằng một nửa quân Tống.
– Vậy Quốc lão tính cách gì để kìm chân chúng?
– Tâu đức vua, chính vì thế thần mới nói ta phải lấy phòng thủ chủ động. Không đối mặt dàn trận với địch. Sông núi, rừng bãi của ta cũng sẽ trở thành lực lượng. Ta sẽ bắt chúng sa lầy ở đó.
Hoàng Thái phi nhìn các tướng hỏi:
– Lời Quốc lão Thái úy đã rõ. Các khanh có ai thêm góp gì. Buổi triều kiến này chỉ đặt ra phương lược chống giặc. Đức vua và ta trao cho hai vị Quốc lão Lý Thái úy và Lý Thái sư định liệu. Cách đánh, mưu mẹo ra sao, huy động sức quân, dân thế nào hai vị Quốc lão được toàn quyền.
Lê Văn Thịnh xin thưa:
– Tâu Hoàng Thái phi, tâu đức vua, hạ quan xin cung kính góp ngu ý lên hai Quốc lão. Quân Tống tuy lực lượng đông, hùng hổ dương oai múa võ sang nước ta. Nhưng việc rời bỏ lãnh địa quen thuộc là một thất thế lớn. Kế đánh chậm, giam chân địch là một quyết sách sáng suốt. Ngoài địa hình sông núi, thời gian cũng là đồng minh của ta. Giặc Tống càng ở lâu càng dễ sinh biến. Khí thế sẽ nhụt dần. Hạ quan đọc sách còn biết rằng binh lính nhà Tống rất mê tín. Vì thế hạ quan cho rằng chúng ta phải đánh vào đầu óc mê mụ của chúng nữa.
Mọi người rất chú ý tới lời tham góp của Binh bộ Thị lang Lê Văn Thịnh. Lý Đạo Thành hỏi:
– Có phải ý Thị lang là ta đánh giặc Tống bằng cả âm binh?
– Đúng vậy ạ. Lính Tống xa nhà, bị giam lâu rất dễ mất tinh thần. Ta đánh vào thân xác chúng. Đánh cả vào đầu óc mê tín của chúng thì giặc sẽ hoảng loạn. Ta cầu cả hồn thiêng sông núi. Khí phách Đại Việt và anh linh tiên tổ. Nhất định chúng sẽ vỡ trận.
Vua Càn Đức vỗ tay nói lớn:
– Quả thật ta tiến cử thày giáo Thịnh cho Thái úy là nhìn không lầm người.
Lý Thường Kiệt nói:
– Đây là một ý tưởng rất hay, rất mới của Thị lang. Việc này ta giao cho Binh bộ Thị lang trù tính. Như vậy cả bằng ý chí của quân, dân; thế hiểm của sông núi; mưu sâu và lòng dũng cảm của tướng sỹ chúng ta nhất định lần nữa đánh cho giặc Tống đại bại. Tống Thần Tông và Vương An Thạch sẽ không bao giờ dám dòm ngó Đại Việt ta nữa.
Thái úy Quốc lão Lý Thường Kiệt năm ấy đã sắp tròn “lục thập hoa giáp” nhưng sức vóc và sức nghĩ còn rất khang kiện, minh mẫn. Ông vạch ra từng hướng đánh, từng trận đánh. Ý chí và quyết tâm của vị danh tướng kiệt hiệt truyền tới quần thần sự phấn khích cao độ. Tất cả thề trước đức vua, Hoàng Thái phi nhiếp chính quyết làm cho giặc Tống phải ôm đầu máu tháo chạy.
Chiến dịch “Tiên phát chế nhân” của Thái úy Lý Thường Kiệt giúp nhà Lý có được khoảng thời gian vô cùng quý báu. Hơn chín tháng chuẩn bị cho cuộc đối đầu với đại quân Tống.
Từ trước đó, hàng triệu dân binh đã được huy động xây dựng một chiến tuyến vĩ đại chạy dài tới trăm dặm. Những hướng mà quân Tống có thể tiến vào Đại Việt đều bố phòng chắc chắn. Hai đường thủy lớn nhất từ châu Khâm qua châu Vĩnh An vào Thăng Long mất khoảng năm ngày. Từ trại Vĩnh Bình theo các nhánh sông Ô Bì, Đào Hoa, Phú Lương mất bốn ngày. Đường bộ có ba ngả. Một từ trại Vĩnh Bình qua Lạng Châu xuống Lạng Giang vào Thăng Long mất sáu ngày. Từ trại Ôn Nhuận qua châu Quảng Nguyên mất khoảng mười hai ngày. Nhưng tuyến này lối đi nhỏ, nhiều hẻm núi, dễ bị mai phục.
Thái úy Lý Thường Kiệt dự tính Quách Quỳ sẽ vào theo hai ngả chính. Đại quân bộ từ trại Vĩnh Bình vào Lạng Châu, Lạng Giang vượt sông Như Nguyệt, sông Thiên Đức và sông Cả vào Thăng Long. Đạo thủy binh từ Khâm Châu vào ngả Vĩnh An, cửa Vân Đồn theo sông lên Lục Đầu giang và hợp với quân bộ ở cửa Vạn Xuân.
Chặn chúng cách sao? Trong đầu thái úy chợt lóe lên một cái tên. Đúng ra là hai cái tên:
– Quân đâu?
– Thưa, Thái úy đại nhân cho gọi tiểu nhân?
– Ngươi vời ngay cho ta quan Binh bộ Thị lang Lê Văn Thịnh tới gấp.
– Tuân lệnh.
Căn phòng dinh quan thái úy ở phường Thái Hòa ngổn ngang bản vẽ. Lê Văn Thịnh tới, một mình quốc lão Thái úy đang nhìn như dán mắt vào tấm địa đồ châu Lạng Giang.
– Trình bẩm Thái úy đại nhân cho gọi hạ quan.
Lý Thường Kiệt không quay đầu lại. Ông làm động tác mời Lê Văn Thịnh tới bên cạnh, nói như đinh đóng cột:
– Quách Quỳ, Triệu Tiết sẽ vào đây. Đường này. Thị lang có biết cách nào để kìm chân chục vạn quân địch ở hướng này không?
Lê Văn Thịnh thưa:
– Thái úy đại nhân đã tính toán cả. Hạ quan chỉ còn chờ mệnh lệnh thôi ạ.
Lý Thường Kiệt vẫn không nhìn Lê Văn Thịnh:
– Thị lang hãy đi ngay lên đó. Đem theo mật lệnh của ta.
– Tuân lệnh đại nhân. Chẳng hay hạ quan cần trao mệnh lệnh của Quốc lão cho ai ạ?
Lý Thường Kiệt cầm phong giấy nhỏ:
– Trong này ta đã có lời dặn kỹ. Thị lang giao tận tay cho phò mã Thân Cảnh Phúc. Còn bây giờ hãy lại đây. Ta nói rõ một lượt kế chống giặc ở các hướng. Ngay khi từ Lạng Giang về, Thị lang phải luôn có mặt trong soái doanh, khâu nối các hướng đánh địch lại cho ta.
Lê Văn Thịnh nhận lệnh thái úy Lý Thường Kiệt đi ngay trong đêm.
Trở lại kế sách kìm chân quân Tống từ biên ải. Mật lệnh của Quốc lão Thái úy Lý Thường Kiệt giao cho phò mã tù trưởng Thân Cảnh Phúc và một số thủ lĩnh động trại. Thái úy Lý Thường kiệt còn phái một số tùy tướng dẫn quân lên biên giới tăng cường cho họ. Tù trưởng Lưu Kỷ ở Quảng Nguyên, Hoàng Kim Mãn, Nùng Thuận Linh, Sầm Khánh Tân ở Môn Châu, Vi Thủ An ở Tô Mậu… Giặc đặt chân vào cương thổ Đại Việt phải bị đánh ngay. Đánh ngày, đánh đêm, đánh bất ngờ khiến chúng không thể tiến nhanh.
Thân Cảnh Phúc là con vị phò mã đầu tiên của nhà Lý. Ông nội Thân Cảnh Phúc, tù trưởng Giáp Thừa Quý đóng doanh ở động Giáp. Giáp Thừa
Quý được vua Lý Công Uẩn gả công chúa và đổi sang họ Thân. Con trai Thân Thừa Quý là Thân Thiệu Thái lấy công chúa Bình Dương con vua Lý Thái Tông. Vị tù trưởng thứ ba Thân Cảnh Phúc con trai Thân Thiệu Thái lấy công chúa Thiên Thành con vua Lý Thánh Tông năm 1066, đúng vào năm Lý Càn Đức ra đời. Vậy Thân Cảnh Phúc là anh rể vua Lý Nhân Tông.
Con cháu nối nghiệp ông, cha. Ba đời dòng họ Thân ở động Giáp được các triều vua Lý tin tưởng gả con gái và giao làm Châu mục Lạng Châu, coi sóc vùng biên ải quan trọng bậc nhất của Đại Việt. Họ Thân rất trung thành, góp nhiều công lớn trong việc bảo vệ biên cương. Thân Cảnh Phúc còn là vị tù trưởng văn võ song toàn. Tiếng nói của tù trưởng Thân Trọng Phúc được người dân tin tưởng nghe theo. Thái úy Lý Thường Kiệt đặt toàn bộ niềm tin vào phò mã Thân Cảnh Phúc.
Nhận mật lệnh của quốc lão thái úy, Thân Cảnh Phúc lập tức triệu tập các chủ trại người dân tộc thiểu số ở Lạng Châu. Dân binh gộp lại khoảng bảy ngàn
người. Chia thành trăm tốp nhỏ. Những ải, lũy hiểm trở, những hang gò rậm rạp đều bố trí phục binh.
Ngay từ bước chân đầu tiên trên đất Đại Việt, từ Tư Minh, Bằng Tường tới châu Quang Lang, Lạng Châu… giặc Tống đã bị đội dân binh của Thân Cảnh Phúc và các tù trưởng chặn đánh quyết liệt. Từ ải Quyết Lý quân Tống bị kéo căng trên chiều dài đoạn đường nhỏ hiểm trở. Con lộ chạy ngoằn ngoèo giữa những dầy núi thấp lô xô. Sau những triền núi ấy là bức tường thành dựng đứng của dãy Bắc Sơn. Tại đây phò mã Thân Cảnh Phúc bố trí mấy trăm tay cung dài nỏ cứng. Quách Quỳ đoán biết nên chia làm hai cánh. Sai viên tướng Tu Kỷ dùng kỵ binh theo đường tắt vòng sang phía tây, qua Vạn Linh tiến xuống bờ bắc sông Cầu. Một cánh quân khác vòng sang phía tây uy hiếp mặt nam ải Giáp Khẩu. Trận này quân động Giáp thất bại. Thân Cảnh Phúc liền chia nhỏ lực lượng lẩn vào rừng, quấy đảo phía sau lưng quân Tống.
Thái úy Lý Thường Kiệt đã không lầm khi giao trận mở màn cho phò mã Thân Cảnh Phúc. Đại quân Quách Quỳ, Triệu Tiết luẩn quẩn chống đỡ. Hàng trăm toán dân binh lúc hiện lúc ẩn làm giặc Tống không đêm nào yên giấc. Quãng đường từ trại Vĩnh Bình vào tới kinh đô Đại Việt chỉ đi khoảng năm ngày vậy mà đạo quân thiên triều chục vạn người đã bị giam chân suốt nửa tháng trời.
Kế hoạch đánh nhanh, đánh phủ đầu Đại Việt của Vương An Thạch phá sản. Thư tịch cổ Trung Quốc sau này ghi lại bài học về cách lợi dụng địa hình hiểm trở đánh lén, đánh tiêu hao, đánh vào tinh thần làm nhụt ý chí chiến đấu của đạo quân Quách Quỳ:“Quân Tống…chiếm châu Quang Lang, viên Tri châu là con rể nhà vua, bèn trốn vào trong đám cỏ, thấy quân Tống thì ra giết chết hoặc bắt về xẻo thịt ăn. Người ta cho là vị Thiên thần” (25). Viên tri châu Quang Lang, con rể vua ấy không ai khác là phò mã Thân Cảnh Phúc.
Chiến công mở đầu cuộc kháng chiến chống Tống năm 1076 – 1077 thuộc về dân binh các động, trại người thiểu số vùng đất Lạng Giang, Lạng Châu do phò mã Thân Cảnh Phúc và các tù trưởng chỉ huy.
Để giúp bạn hiểu rõ hơn về nội dung, sau đây là phần chú thích của chương 16. Mời bạn nghe cùng BÚC CÁC:
(25). Theo sách Đại Việt sử ký tiền biên đời Tây Sơn.