Sau chiến dịch “Tiên phát chế nhân” của Lý Thường Kiệt, phe bảo thủ trong triều đình nhà Tống dồn dập hạch tội Vương An Thạch. Ngô Sung, viên đại quan đứng đầu nhóm chủ hòa, thảo một bản tấu dài dâng lên Tống Thần Tông lần nữa đòi biếm chức Vương An Thạch. Song vào thời điểm này Tống Thần Tông đang bừng bừng giận dữ. Trong đầu vua Tống chỉ nghĩ cách trả thù Đại Việt. Người ủng hộ vua Tống nhất là Tể tướng Vương An Thạch. Thạch đổ thêm dầu vào lửa. Hắn khoáy sâu nỗi uất hận, cay đắng của Tống Thần Tông. Vương An Thạch thưa:
– Muôn tâu thánh thượng, mấy thành trì nhỏ nam Quảng Tây sát biên giới Giao Chỉ vừa rồi bị mất không thể coi là thất bại của quân đội thiên triều. Lý Thường Kiệt bất ngờ đem đại quân đánh úp. Giữ thành đều là lính bản địa và dân binh. Thần cho rằng Lý Thường Kiệt đã tạo cho ta cái cớ rất tốt để bắt Giao Chỉ phải quy phục.
Ngô Sung phản bác:
– Tâu hoàng thượng, nước ta tạm yên hơn trước đây, nhưng tham vọng của hai nước Liêu, Tây Hạ vẫn ủ nóng trong đầu. Biên cương và những vùng đất vừa ký hòa hoãn cần nhiều công sức và thời gian củng cố. Không nên động binh vào lúc này. Đem quân sang đánh Giao Chỉ, thần e rơi vào thế hai đầu thọ địch.
Tống Thần Tông ngồi lặng nghe hai bên tranh cãi. Vương An Thạch khích Tống Thần Tông:
– Muôn tâu thánh thượng, viên hoạn quan Lý Thường Kiệt dám đem quân xâm phạm bờ cõi thiên triều là hành động ngược ngạo chưa từng có của một nước chư hầu. Chúng quá coi thường đại Tống ta. Thần nghĩ đây không còn là chuyện nên hay không nên. Dù tốn kém, gian khổ đến mấy cũng phải dạy cho chúng một bài học đích đáng. Phải phá tan cái nước đó để cảnh tỉnh dằn mặt các nước phên thuộc khác.
Ngô Sung:
– Tâu hoàng thượng, thần lại nghĩ lúc này nên dẹp bỏ sự tự ái nhất thời. Các châu Ung, Khâm, Liêm thất thủ là do việc tích trữ lương thảo, vũ khí của quân đội quá lộ liễu. Đây là lỗi bất cẩn của Tể tướng Vương An Thạch. Lộ rõ ý đồ xuất binh của Đại Tống khiến Lý Thường Kiệt không thể ngồi nhìn. Nay mang quân báo thù trong lúc quá giận e rằng mất khôn. Lý Thường Kiệt chắc chắn đã giăng bẫy đón sẵn, không chừng còn thua đau hơn.
Thấy Ngô Sung chỉ thẳng vào lỗi lầm của mình, Vương An Thạch điên tiết:
– Thái phó Ngô Sung toàn bàn chuyện nhục vinh của đất nước trên đầu lưỡi. Tôi đã tâu bẩm rõ ràng lên thánh thượng. Mấy thành trì thất thủ không phải do chuẩn bị lộ liễu mà lỗi ở việc canh phòng thiếu chặt chẽ nên bị bất ngờ. Lý Thường Kiệt đem mấy vạn binh mã vào sâu đất ta không gặp sự chống cự nào. Hai thành Liêm Châu và Khâm Châu bị phá chỉ trong ba ngày. Nhưng đến Châu Ung thì khác hẳn. Tướng quân Tô Giám chỉ dựa vào lực lượng bản bộ đã giữ vững thành tới bốn mươi hai ngày. Thất bại vừa qua hoàn toàn do lơi lỏng bị động là vì thế.
Ngô Sung vặn lại:
– Vậy lần này Lý Thường Kiệt đang chờ ta sang báo thù. Đem quân sang đất giặc, lạ thung thổ, lạ đường sá liệu còn bao nhiêu bị động, bất ngờ nữa đây.
Lời qua tiếng lại, Tống Thần Tông càng thêm rối trí. Ông ta gầm lên, không nghĩ mình đang đứng giữa triều:
– Im hết đi. Các khanh làm ta mất mặt quá. Giờ lại cãi vã không đưa ra nổi một ý kiến nào khả dĩ nào. Người bàn đánh, người bàn hòa. Ta quyết thù này phải trả. Không thể để một xứ như cái móng tay ấy làm nhục mà không có động thái gì.
Quần thần sụp cả xuống. Lặng phắc. Vậy là vua Tống chuẩn lời tâu của Vương An Thạch. Hồi lâu, Tống Thần Tông hỏi:
– Các khanh còn ai muốn nói nữa không?
Vua đã quyết định thế thì còn biết nói gì. Nói nữa không khéo vạ miệng. Quần thần im thít. Tống Thần Tông hạ chỉ:
– Ta lần nữa giao toàn quyền cuộc chinh phạt Giao Chỉ cho Tể tướng Vương An Thạch. Hãy huy động binh lính. Chọn tướng giỏi chỉ huy. Đem chiến thắng về đây cho ta. Phải thắng. Lần này phải đại thắng.
Vương An Thạch:
– Thần tuân chỉ. Thánh thượng anh minh vạn tuế, vạn tuế, vạn… vạn… tuế.
Tể tướng Vương An Thạch đạt được mục tiêu. Vua Tống không còn bụng dạ nào xem xét phản ứng của phe bảo thủ về chính sách kinh tế. Cung đình nhà Tống sẽ bị hút hết vào cuộc chiến với Đại Việt.
***
Để đáp lại lời hịch trong “Phạt Tống lộ bố văn” của Lý Thường Kiệt, Tống Thần Tông ban bố: “Thảo Giao Chỉ chiếu” trước khi xuất binh. Vua Tống khủng bố tinh thần, quân, dân Đại Việt. Lời lẽ rất ngạo mạn, hống hách, mị dân. Kêu gọi Đại Việt quy hàng. Nhà Tống luôn coi mình là nước lớn, là thiên triều cai quản chư hầu:
“Xét lại nước An Nam đời đời hưởng vương tước, các triều trước đối đãi khoan hậu, khi nào cũng bao dung tha thứ, mãi đến ngày nay. Nay lại xâm phạm thành ấp, sát hại quân dân, đã phạm pháp kỷ thì không thể tha thứ được.
Vâng mệnh trời mà chinh phạt, tức là có danh nghĩa. Vậy sai Triệu Tiết sung làm chức An Nam đạo hành dinh, Mã Bộ Quân Đô Tổng Quản Kinh Lược Chiêu Thảo Sứ, Lý Hiến sung làm chức Phó Sứ, Yên Đạt sung làm chức Mã Bộ Phó Sứ Đô Tổng Quản, thuận theo thời lệnh mà dấy binh đường thuỷ và đường bộ tiến quân.
Ý trời tỏ ra giúp thuận, hiện ra những điểm chỉ vẽ rõ ràng. Người nào biết hối hận, đều giữ khí khái đối địch quân thù, những nơi nào quân vua tới sẽ không tổn hại đến thường dân và tàn sát kẻ bại trận.
Hỡi quân dân đã lâu ngày sống trong cảnh lầm than, nếu biết khuyên dụ chủ mình nội phụ, xuất chúng qui phục, bắt giặc hiến cống, đem mình hiếu thuận, thì sẽ được thưởng tứ tước lộc, vinh hiển bội phần, những tội lỗi trước đây đều được ân xá.
Càn Đức đương còn ấu trĩ, chính lệnh không do y mà ra, khi nào lai triều cũng sẽ được tiếp đãi trọng hậu như trước. Lời ta không sai, chớ có nghe lầm. Gần đây, ta nghe người dân bị bóc lột cực khổ, ta đã căn dặn sứ thần truyền đạt ân chiếu của ta, sự tàn bạo và thuế nặng đều được tẩy trừ. Mong rằng nước chư hầu của ta luôn được yên vui”.
Tống Thần Tông sai Vương An Thạch thương thảo hòa hoãn với hai nhà Liêu và Tây Hạ. Nhượng bộ hai nước ấy để rút lực lượng lớn binh sĩ xuống phía nam. Có yên mạn bắc mới rảnh tay để thôn tính Giao Chỉ. Vương An Thạch chọn các tướng lão luyện trận mạc giao chỉ huy các đạo binh. Cuộc xâm lăng Đại Việt lần này quan trọng với Tống Thần Tông đến mức nào.
Trong “Thảo Giao Chỉ chiếu” Tống Thần Tông cho Triệu Tiết làm chủ tướng, Lý Hiến, Yên Đạt làm phó tướng. Nhưng Vương An Thạch lại chọn Quách Quỳ. Triệu Tiết phải xuống làm phó thay Lý Hiến. Yên Đạt xuống hàng tùy tướng. Quyết định đó đã cấy mầm phản ứng không phục nhau trong mấy viên tướng cầm đầu.
Trước ngày xuất binh, Vương An Thạch dẫn các tướng vào cung nghe chỉ dụ. Đây là cử chỉ đặc biệt của Tống Thần Tông. Vua Tống muốn tự mình úy lạo các tướng. Truyền cho họ quyết tâm chiến thắng:
– Chúng thần kính chúc thánh thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.
Hai hàng văn võ phân ngôi thứ vừa xong, Tống Thần Tông sang sảng:
– Ta giao cho các khanh 10 vạn hùng binh. Một nửa số đó dạn dầy trận mạc từ chiến tuyến phía bắc. 10 ngàn kỵ binh làm tiên phong. 30 ngàn thủy binh cùng 700 chiến thuyền. 200 máy bắn đá và 40 vạn dân phu phục dịch hậu cần, quân bị. Điều đó các khanh hiểu quyết tâm của ta và ý nghĩa rất lớn của chiến thắng này.
Vương An Thạch tâu:
– Chúng thần đội ơn thánh thượng đã tin tưởng. Các tướng xin hứa sẽ đem đầu tên quan hoạn Lý Thường Kiệt về dâng trước bệ rồng.
– Ta không nghi ngờ gì vào thắng lợi trận này. Nhưng các khanh có biết vì sao ta quyết định xuất một đạo binh lớn như vậy để thôn tính một xứ nhỏ bé như Giao Chỉ?
Tướng soái nhìn nhau. Chưa ai hiểu thâm ý của Tống Thần Tông. Vua Tống đắc chí:
– Ắt có người nghĩ ta quá cay cú trả thù việc Lý Thường Kiệt đem quân xâm phạm bờ cõi, phá nát năm châu quận của ta. Đó chỉ là một lý do. Đó chỉ là cái cớ. Trận này ta muốn bắt Giao Chỉ quy hàng trở thành châu quận nhà Đại Tống và trả món nợ cho tiến đế từ trăm năm trước. Không một kẻ phiên thuộc nào được ngược ngạo với thiên triều. Đó là bài học chung cho chư hầu. Vì thế các khanh phải thắng. Thắng oanh liệt. Nêu cao khí phách hùng lược thống soái của đại Tống ta.
Triều thần ồ lên. Trong thâm tâm, dẫu là kẻ hậu sinh, Tống Thần Tông vẫn đau đáu rửa mối hận của nhà Tống dưới triều đại Tống Nhân Tông. Đó là trận quân Tống đại bại dưới tay vua Lê Đại Hành vào năm Tân Tỵ 981.