Dọc biên giới Đại Việt, nơi sinh sống của nhiều tộc người thiểu số. Phần tuyệt lớn là hậu duệ của người Lạc Việt, Âu Việt từ thời dựng nước Âu Lạc. Có nhiều tộc người khác nhau mang tên gọi: “Liễu”, “Man” hay “Lý”. Nơi cư trú của họ được gọi là “Trại”, “khê”, “động”. Họ Nùng ở Quảng Nguyên. Họ Vi ở Tô Mậu. Họ Hoàng ở Vĩnh An. Đặc biệt họ Giáp và Thân cư ngụ rất đông từ Lạng Châu xuống Lạng Giang. Đứng đầu là tù trưởng, động trưởng, chúa trại.
Triều đại nhà Lý xuất hiện nhiều tù trưởng rất tài giỏi trấn giữ một vùng rộng lớn, đông dân. Đáng kể là quân của tướng Lưu Kỷ giữ châu Quảng Nguyên. Tướng Hoàng Kim Mãn giữ Môn Châu. Vi Thủ An ở vùng biển Tô Mậu, Ninh Hải. Song hùng mạnh nhất là người họ Giáp, họ Thân từ Lạng Châu xuống tới Lạng Giang. Vị tù trưởng Thân Cảnh Phúc là phò mã của triều đình nhà Lý. Thân Cảnh Phúc trấn giữ con đường trọng yếu nhất, lớn nhất và ngắn nhất từ nước
Tống sang kinh đô Thăng Long. Trên con đường này có các cửa ải vô cùng hiểm trở như Quyết Lý, Giáp Khẩu thuộc Lạng Châu.
Trong soái doanh của Thái úy Lý Thường Kiệt có phó tướng Tôn Đản. Lê Văn Thịnh giữ vai trò như một phó tướng quân cơ. Hai vương tử Hoằng Chân, Chiêu Văn và tướng Lý Kế Nguyên chỉ huy thủy binh. Các tùy tướng người dân tộc thiểu số Thân Cảnh Phúc, Lưu Kỷ, Vi Thủ An, Hoàng Kim Mãn… Trạng
nguyên, Binh bộ Thị lang Lê Văn Thịnh giúp mọi việc họa đồ, biểu hịch giấy tờ. Đây là lần đầu tiên vị trạng nguyên khai khoa ra trận với vai trò tùy tướng của Quốc lão Thái úy Lý Thường Kiệt.
Ngày cuối cùng, tháng cuối cùng năm Ất Mão (1075), Lý Thường Kiệt mình mặc võ phục, gương mặt ngời lên quyết tâm bắt giặc Tống phải ngỡ ngàng thất đảm. Ông vạch đầu cây gậy chỉ huy vào các vùng đất châu Lạng Giang lên tới châu Quảng Nguyên. Sáu vạn hùng binh Đại Việt chia hai mũi tiến sang đất Tống.
Để khích lệ tinh thần binh sĩ và làm nhụt chí quân giặc, Lý Thường Kiệt cho soạn bản hịch:“Phạt Tống lộ bố văn”. Bản hịch sẽ bố cáo trong dân nước Tống nơi mà quân đội Đại Việt sẽ đi qua. Lời lẽ uy nghiêm, hùng khí và sáng rõ đạo trời:
“Trời sinh ra dân chúng, vua hiền ắt hoà mục. Đạo làm chủ dân, cốt ở nuôi dân. Nay nghe
vua Tống ngu hèn, chẳng tuân theo khuôn phép thánh nhân, lại tin kế tham tà của Vương An Thạch, bày những phép “thanh miêu”, “trợ dịch”, khiến trăm họ mệt nhọc lầm than mà riêng thoả cái mưu nuôi mình béo mập.
Bởi tính mệnh muôn dân đều phú bẩm tự trời, thế mà bỗng sa vào cảnh éo le độc hại. Lượng kẻ ở trên cố nhiên phải xót. Những việc từ trước, thôi nói làm gì!
Nay bản chức vâng mệnh quốc vương chỉ đường tiến quân lên bắc, muốn dẹp yên làn sóng yêu nghiệt, chỉ có ý phân biệt quốc thổ, không phân biệt chúng dân. Phải quét sạch nhơ bẩn hôi tanh để đến thuở ca ngày Nghiêu, hưởng tháng Thuấn thanh bình!
Ta nay ra quân, cốt để cứu vớt muôn dân khỏi nơi chìm đắm. Hịch văn truyền tới để mọi người cùng nghe. Ai nấy hãy tự đắn đo, chớ có mang lòng sợ hãi!”…
Người dân Tống ở vùng rừng núi biên ải xa kinh đô Biện Kinh, mấy năm nay chịu nhiều cơ cực vì chính sách “Thanh miêu”, “Trợ dịch” của Vương An Thạch. Vả lại mối quan hệ, làm ăn của họ từ nhiều đời gần gũi với người dân Đại Việt hơn. Nay nghe Vương An Thạch sắp gây cảnh binh đao họ vô cùng lo sợ. Bài hịch “Phạt Tống lộ bố văn” của Lý Thường Kiệt, khiến người dân Tống thấy trái phải rõ ràng, hợp với tình cảnh, tâm trạng họ. Quân đội Lý Thường Kiệt đi tới đâu dân Tống đón tiếp, chỉ đường. Cuộc hành binh tiến rất nhanh, hầu như không gặp trở ngại gì.