Ngày thi, các Nho sinh đến thật sớm. Dường như đêm qua không ai ngủ. Trời còn nhập nhoạng trong tiết xuân đông giá. Làn hơi nước hay làn sương dâng trắng mặt hồ Lục Thủy. Sĩ tử tập trung tại một bãi đất rộng ven đường. Phía sau là tường gạch xây vuông quây lấy một khu đất khác. Giữa bức tường có cổng vòm lớn. Cửa đóng chặt. Hai bên cổng phụ tả, hữu mở ra. Trên vòm cổng nổi bật đại tự: “TRƯỜNG THI”. Đôi câu đối vải đỏ thả dọc hai bên:
“Hạ bút ngàn câu, rồng bay phượng múa, ơn vua lòng rạng rỡ
Sĩ tử mỉm cười, trăng như giát bạc, bảng vàng ắt về tay”.
Lê Văn Thịnh nhẩm qua là thuộc. Chàng tấm tắc khen bậc túc Nho nào làm ra câu đối này thật hay, khích lệ tinh thần sĩ tử.
Hóa ra cũng chỉ trên một trăm Nho sinh tham gia ứng thí lần này. Sĩ tử ngồi thành năm hàng trên bãi đất. Cách nhau một sải tay. Vị quan Trung thư sảnh dõng dạc gọi tên. Đến ai thì đứng lên cầm theo cái bị đựng sách, bút tiến đến chỗ hai cái bàn trước cửa tả, hữu. Mỗi cửa hai người lính cấm vệ cầm giáo đứng canh rất uy nghiêm. Mỗi bàn hai viên tiểu lại làm công việc khám xét. Khám cái bị sĩ tử đem theo, xong quay ra khám người.
Kỳ thi đầu tiên của đất nước. Mọi thứ đều chưa có tiền lệ. Ai cũng hồi hộp. Hồi hộp nhưng nghiêm cẩn. Sĩ tử nào khám xong theo số chẵn lẻ ghi trên thẻ vào bên trong. Lại một khoảng đất rộng khác. Ở giữa khoảng đất ấy bốn dẫy nhà mới dựng quây thành hình vuông, chia nhiều phòng. Cửa chính mở ra lối đi tới một sân gạch to. Phòng thi nhỏ nhưng đủ ánh sáng. Chính giữa phòng trải một chiếu đơn. Giữa chiếu đặt cái bàn thấp. Ngoài ra không có gì nữa. Sĩ tử ngồi quay lưng lại cửa chính.
Trước mỗi phòng thi lại một người lính cấm vệ đứng canh. Mắt nhìn thẳng không chớp. Mặt lạnh như sắt nguội.
Vừa nhận phòng, ba tiếng trống cất lên. Loa gọi sĩ tử đi tay không ra chỗ sân gạch. Một hương án lớn đặt ở đó. Từ cái lư đồng, hương trầm bay ra ngào ngạt. Mùi thơm dễ chịu, bí hiểm. Đúng giờ hoàng đạo, viên quan Trung thư sảnh cao giọng: “Tất cả quay về hướng tây, quỳ năm lạy”. Chánh chủ khảo, Thái sư Lý Đạo Thành nâng thẻ ngà lên quá đầu lạy xin phép vua Lý Nhân Tông cho bắt đầu khoa thi. Thư gia xướng danh lên nhận đề thi. Ai nhận được rồi lại nâng đề thi lên lạy năm lạy tạ ơn vua rồi về phòng bắt đầu làm bài. Trường thi chìm trong lặng phắc. Chỉ thỉnh thoảng nghe tiếng lật giấy. Các quan coi thi thay nhau dạo qua từng phòng. Đến cửa dừng lại nhìn vào.
Đúng như Lê Văn Thịnh phỏng đoán, bài thi chia hai phần. Bảy mươi câu hỏi. Bốn chục câu đầu sĩ tử phải trả lời về ý nghĩa lời dạy của đức Khổng Tử, các bậc Tứ phối về đạo quân thần, đạo người quân tử. Ba mươi câu sau nhận thức của sĩ tử về xã tắc và chúng dân. Có phần bình văn. Có luận giải nhận thức về đất nước, về chúng dân, về trách nhiệm kẻ sĩ với xã hội… Mỗi câu tuy ngắn nhưng phải vận dụng rộng rãi kiến thức trong kho kinh sách đã học suốt bao nhiêu năm. Không trùng lặp. Bài thi bắt buộc viết theo lối chân phương. Cấm viết thảo. Quả là một đề thi khó. Bảy mươi câu hỏi gồm nhiều nội dung phải trả lời trong một ngày thi là đòi hỏi rất cao.
Lê Văn Thịnh đọc lướt qua một lượt. Đọc lại lượt nữa, thấy mình có thể làm được cả. Nhưng Thịnh chưa vội làm. Một bài thi ở bậc cao nhất của đất nước chắc chắn triều đình không chỉ chấm về nội dung. Trả lời đúng nhưng phải hay. Không phạm húy. Chữ viết phải đẹp… Điều này Lê Văn Thịnh được cha nhắc nhở và uốn nắn từ nhỏ. Sau này ngồi bảo học, Lê Văn Thịnh cũng luôn nhắc các trò điều đó. Lời cha như vang lên trong đầu: “Nét chữ là nết người. Bài làm đúng mà chữ viết như gà bới thì cũng xổ toẹt”.
Mở đầu bài thi sĩ tử bắt buộc phải viết một đoạn văn “Tụng thánh” (18). Phần này không kinh sách nào hướng dẫn. Đòi hỏi sự hiểu biết của sĩ tử ngoài sách vở. Những ai chọn được lời hay ý đẹp, nêu bật được võ công, văn trị của triều đình và đức vua. Tình cảm chân thành, không xảo ngôn sẽ gây cảm tình với quan chấm quyển. Lê Văn Thịnh nghĩ ngay đến sự kiện lớn của vương triều Lý. Chàng nắn nót từng câu: “…Từ ngày đức Thái Tổ trên kính mệnh trời, dưới
theo lòng dân rời đô từ nơi chật hẹp ra giữa khu vực trời đất có thế rồng cuộn hổ ngồi, ở giữa nam bắc tây đông, tiện hình thế núi sông sau trước… Bính Ngọ, Long Chương Thiên tự, khí thiêng trời biển, núi non tươi tốt, Thiên tử giáng trần… Theo gương đức Thái Tổ và hai đức Thái Tông, đức vua Lý Nhân Tông càng làm rạng danh tiên tổ. Long tướng uy linh, sáng suốt thần võ, văn học rực rỡ, Đại Việt an bình…”.
Giữa Ngọ. Tiếng trống lại vang lên. Loa gọi sĩ tử dừng làm bài, ra nhận cơm. Nâng suất cơm hướng về điện Kính Thiên quỳ năm lạy tạ ơn vua ban thức ăn. Ăn xong bát đũa để ngoài cửa phòng. Dọc lối đi, cách một đoạn lại có một chõng tre nhỏ. Trên để tích nước vối hoặc trà xanh. Ai khát cứ tự tiện ra đó uống.
Vòng thi đầu tiên làm trong một ngày. Hết giờ Quan giám sát cùng các Thư gia (48) đến từng phòng nhận quyển. Lúc này sĩ tử mới rộn rã hỏi nhau. Ai làm được bài nhìn nét mặt tươi rói là biết. Không ít Nho sinh tỏ ra ủ rũ, chán nản. Lê Văn Thịnh đứng chờ các bạn cùng quê. Bốn chàng trai hương Gia Định, phủ Thiên Đức đều tỏ ra hài lòng. Vừa về đến nơi trọ Hà Ngô Tự bảo:
– Chắc chắn hiền huynh Lê Văn Thịnh làm bài hay nhất. Các huynh đệ ta nhờ huynh ấy “chấm” thử là biết.
Nguyễn Lượng hưởng ứng:
– Đúng đấy. Đệ cũng muốn xem hôm nay mình làm hay, dở thế nào. Hiền huynh giúp đi.
Lê Văn Thịnh nghe từng bạn nói về bài mình làm. Lòng thật vui, chàng bảo:
– Cứ như các hiền huynh nói thì dễ bốn huynh đệ ta đều lọt vào vòng sau.
Các chàng trai học trò ông đồ Lê Thành vui lắm. Ngày xem bảng, đúng như dự đoán, Lê Văn Thịnh đứng đầu vòng thi “Nho học tam trường”. Vòng này chỉ lấy trúng hai mươi người đạt điểm cao nhất. Hà Ngô Tự, Nguyễn Lượng và Nguyễn Trực Nhẫn đều lọt vào vòng sau. Họ được vài ngày nghỉ, ở lại kinh thành chờ vòng thi “Minh kinh bác học”.
Vòng thi thứ hai diễn ra sau vòng trước ba ngày. Địa điểm vẫn chỗ cũ. Cách thức tra soát, phát đề không có gì khác. Đề ra ít câu hỏi hơn nhưng độ khó cao hơn rất nhiều. Có bình văn, soạn chiếu biểu và tự luận. Cũng như vòng thi trước, Lê Văn Thịnh đọc kỹ đề bài. Nhưng đọc mấy lần mà chưa biết nên bắt đầu từ đâu. Thịnh nhắm mắt ngồi định thần. Đó cũng là bài học từ cha. Nếu lúc nào thấy bối rối, hoang mang thì chớ nóng vội. Phải làm cho tâm mình tĩnh lại đã. Sự lo lắng, căng thẳng là điều hay gặp ở người lần đầu dự kỳ thi quan trọng. Thịnh làm theo lời cha và bỗng chốc mọi việc trở nên rõ ràng. Kiến thức bao năm cha dạy. Kiến thức tích lũy những năm ngồi bảo học trò lần lượt hiện lên.
Mấy chục câu hỏi ở vòng thi này phải vận dụng lượng kiến thức rất rộng. Sĩ tử phải thể hiện được nghĩa lý chữ thánh hiền. Đơn cử chỉ một chữ “Trung”
do Khổng Tử khởi xướng. Cháu nội ngài là Tử Tư viết bộ “Trung dung” làm sáng thêm. Năm trăm năm sau Mạnh Tử, Lão Tử tiếp nhận và nhuận sắc cho rõ hơn. Vậy gần ngàn năm ấy, chữ “Trung” nối tiếp và phát triển ra sao trong nhận thức? Áp dụng sao trong cuộc sống? Không hiểu sâu sắc sẽ dễ bị sai lạc. Lê Văn Thịnh chọn từng lời, từng chữ trau chuốt, đặt vào đúng văn cảnh. Làm xong thì cũng vừa lúc sắp hết giờ. Lê Văn Thịnh đọc lại, cảm thấy hài lòng.
… Hai ngày chờ đợi thật nóng ruột. Ai cũng trầm ngâm. Không rộn rã hồ hởi như vòng thi đầu. Tới khi yết bảng, niềm vui lần nữa trào dâng trong lòng các Nho sinh hương Gia Định, phủ Thiên Đức. Lê Văn Thịnh lại đứng đầu vòng thi này. Xếp sau Lê Văn Thịnh không có người đậu nhì. Hà Ngô Tự phủ Thiên Đức và Vũ Uẩn lộ Châu Phong đỗ hạng ba. Nguyễn Trực Nhẫn giáp Xuân Lai, phủ Thiên Đức đỗ hạng tư. Nguyễn Chính Định phủ Ứng Thiên đỗ hạng năm. Chỉ tiếc Nguyễn Lượng bị đánh trượt. Vậy là năm người đỗ đại khoa thì ba thuộc phủ Thiên Đức. Người dân kinh thành Thăng Long náo nức rủ nhau đi xem yết bảng. Họ tên Lê Văn Thịnh được truyền tai nhau tới khắp phố phường. Ai cũng muốn biết mặt thủ khoa (19) đầu tiên nền Nho học Đại Việt.
Tuy được ghi danh cao nhất cả hai vòng thi, nhưng Lê Văn Thịnh còn phải trải qua một vòng thi nữa. Triều đình muốn biết thêm thực học của người sẽ được vinh danh “Trạng nguyên khai khoa”. Bởi ai giật “bảng vàng” sẽ được trao một vinh dự vô cùng lớn là trở thành thầy hầu vua Lý Nhân Tông học.
Lý Càn Đức năm ấy mới lên chín tuổi. Thầy hầu học sẽ là tấm gương trực diện, có ảnh hưởng rất lớn đến tâm thế đức vua. Vì thế không chỉ lầu thông kiến thức sách vở, thày giáo hầu vua học còn phải là người có đức độ, lễ nghĩa và phương pháp sư phạm. Sự hiểu biết cuộc sống cùng phong thái, dung mạo là đòi hỏi rất khắt khe.
Hà Ngô Tự, Nguyễn Trực Nhẫn và hai Nho sinh đỗ kỳ này được nghỉ chờ đức vua Lý Nhân Tông cùng Hoàng thái phi nhiếp chính Ỷ Lan ban khen và cho phép về quê “Vinh quy bái tổ”. Họ háo hức đi thăm kinh thành. Lê Văn Thịnh đóng cửa ôn luyện. Một vòng thi không đoán trước được sẽ như thế nào. Vị quan Trung thư sảnh báo rằng Thái sư Lý Đạo Thành sẽ trực tiếp hỏi thi. Một thầy một trò. Không cần viết quyển.
Lê Văn Thịnh vừa mừng vừa sợ. Vấn đáp là cuộc thi cân não. Thịnh nghĩ câu hỏi trong hai vòng thi vừa rồi chắc quan Chánh chủ khảo không hỏi lại nữa. “Vậy là gì?”. Sẽ rất bất ngờ. Nhưng cũng không thể hỏi ra ngoài những kiến thức đã truyền dạy. Thịnh đọc mở rộng thêm ngoài mấy bộ kinh sách đã thi. Một lần nữa lời cha vọng lên nhắc nhở: “Ngũ kinh” là phần đường hướng, là mở ra lối đi, chỉ ra cái đích người quân tử phải đạt tới. “Tứ thư” là biện pháp, là cách làm để vận dụng đạt được cái đích trên”. Lê Văn Thịnh thấy tâm trạng hào hứng. Chàng chú tâm vào lời dạy của các bậc thánh hiền trong việc làm vua, làm quan, làm người trong ba bộ “Luận ngữ”, “Trung dung”, “Kinh dịch”. Quan điểm dạy người quân tử tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ trong bộ “Đại học”.
Đối mặt với quan Chánh chủ khảo, người được coi là bộ óc thông tuệ nhất nhà Lý, Lê Văn Thịnh mới biết những điều mình chuẩn bị vừa trúng vừa trật. Thái sư Lý Đạo Thành hiểu nỗi lo của chàng Nho sinh trẻ. Ông mở lời khen ngợi và chúc mừng kết quả thi của Lê Văn Thịnh. Đúng là Lý Thái sư đặt ra những câu hỏi rất bất ngờ. Phần lớn là những câu hỏi ngắn. Rất ngắn. Một khi đề ra ngắn như vậy để trả lời được phải vận dụng tới rất nhiều kinh sách. Nhưng may cho Thịnh, quan Chánh chủ khảo tập trung hỏi về kiến thức trong trước tác của đức Mạnh Tử, bậc Á thánh mà Thịnh ngưỡng mộ và tâm đắc nhất. Thái sư Lý Đạo Thành nhìn Thịnh hỏi câu đầu tiên:
– Học trò hiểu thế nào về lời đức Mạnh Kha:“Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh?”.
Lê Văn Thịnh mừng thầm. Câu này Thịnh đã tranh luận với Hà Ngô Tự và Nguyễn Lượng hôm đi hội chùa Dâu. Còn nhớ như in trong đầu. Thịnh tự tin trả lời:
– Thưa quan Chánh chủ khảo, đức Mạnh Tử cho rằng: “Nước mà trông cậy để đứng vững được là nhờ ở ba điều: Một là dân; hai là xã tắc; ba là vua. Vua tuy là chúa tể cả thần, dân nhưng kỳ thực cũng phải nhờ lòng dân có yêu mến, xã tắc có yên ổn thì mới lâu dài được. Thế thì vua ví với dân, với xã tắc, vua là khinh”.
Thái sư Lý Đạo Thành nhìn Thịnh. Có vẻ ông hài lòng, hỏi tiếp:
– Học trò nghĩ sao lời đức Mạnh Tử rằng người quân tử phải có “Hạo nhiên chính khí”?
Câu này khó hơn. Càng ngắn càng khó. Thịnh sắp xếp ý trả lời trong đầu. Những phẩm chất tốt đẹp như “Thiện”, “đức”, “lòng trắc ẩn”… là bản tính phải có của người chân chính. Lê Văn Thịnh mạnh dạn trả lời:
– Thưa quan chánh chủ khảo, học trò hiểu lời đức Mạnh Tử dạy người quân tử phải có “Hạo nhiên chính khí”. “Hạo nhiên” thể hiện ở việc dùng “đức” cảm
hóa, thu phục người khác. “Chính khí” thể hiện ở chỗ con người biết hổ thẹn, có tâm khiêm nhường mới xét đoán mọi việc sáng suốt. “Hạo nhiên chính khí” là phẩm hạnh không thể thiếu của người quân tử ạ.
Lý Đạo Thành gật nhẹ:
– Vậy từ những phẩm hạnh trên, học trò hãy nói thật ngắn gọn “Đức thiện lương” của người quân tử trong vài từ?
Lê Văn Thịnh giật mình. Quan Chánh chủ khảo đánh đố mình chăng? Đức thiện lương thì có khác gì với phẩm hạnh? Đức thiện lương thể hiện ở phẩm chất và cung cách hành xử trong cuộc sống của mỗi người. Người quân tử phải tỏ được đức thiện lương sáng hơn, rõ hơn người thường. Nhưng đúc kết lại trong vài từ thì thật quá khó. Lê Văn Thịnh cúi đầu, nhắm mắt. Bỗng lóe trong óc lời Mạnh Tử. Câu này có trong bộ “Luận ngữ”. Thịnh tự tin:
– Thưa quan Chánh chủ khảo. Học trò nhớ lời đức Mạnh Tử dạy rằng tính thiện lương của người quân tử nằm trong năm chữ: “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín” ạ.
Lần này thì Thái sư, Chánh chủ khảo Lý Đạo Thành giật mình. Ông nghĩ rằng Lê Văn Thịnh khó mà trả lời trúng được câu đó. Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín được các bậc thánh Nho trình bày trong nhiều bài giảng. Vậy mà Lê Văn Thịnh gói gọn lại một cách thật đầy đủ, ngắn gọn. Lý Đạo Thành hỏi thêm một câu rất ngắn nữa:
– Học trò hiểu thế nào về câu: “Thành dĩ an mệnh”?
Câu này ôm chứa cả bể chữ của bộ “Kinh dịch”. Nó rất xa những điều mà sĩ tử miệt mài ôn luyện lâu nay. Và quan Chánh chủ khảo cần một câu trả lời ngắn gọn, đủ ý chứ không thể tràng giang đại hải. Lần này Lê Văn Thịnh bối rối. “Kinh dịch” đúc kết tư tưởng của các nhà hiền triết Trung Hoa, ngả nhiều về các thuật chiêm bốc, chiêm tinh, đoán mệnh… kết hợp với thuyết âm dương ngũ hành thành phương pháp xét người, dùng người. Trả lời sao đây? Nỗi sợ ngấm vào khiến mồ hôi rịn ra trong lưng áo. Cái lạnh chạy dọc sống lưng. Nhờ cái lạnh ấy mà Lê Văn Thịnh chợt nhớ tới đêm trong quán nước ven đê sông Thiên Đức hôm vào kinh ứng thí. Cuộc đàm đạo với ông chủ quán nước kì dị hình như có nhắc tới câu “Thành dĩ an mệnh” này. Các bậc hiền triết đúc kết thành yếu tố: “Thiên thời, địa lợi, nhân hòa”. Thịnh thầm ồ lên:
– Thưa quan Chánh chủ khảo, kẻ sĩ muốn lập thân chính đạo cần phải hiểu quy luật của thiên nhiên mới đạt tới “an mệnh”. Lại phải nhuần quy tắc trung dung mới được coi là “thành dĩ”. Tức phải sáng rõ phép tắc của thiên địa. Thấu tỏ âm dương, tu sửa đường chính mệnh, lấy được lòng người và lựa chọn đúng thời cơ thì mới mong hiển đạt.
Thái sư Lý Đạo Thành không giấu được ngạc nhiên, cảm phục. Ông nhìn Lê Văn Thịnh nghĩ: “Sức học thế này thì là thần chứ không phải người!”. Vị Chánh chủ khảo bị chàng Nho sinh trẻ cuốn theo. Không còn với tâm thế của người đặt câu hỏi nữa mà là sự tò mò. Tò mò về tri thức, về kiến văn và tài đối đáp của Lê Văn Thịnh.
Ngay sau hôm kết thúc vòng thi “Minh kinh bác học”, Thái sư Lý Đạo Thành đã đòi Trung thư sảnh đem các quyển thi của năm Nho sinh trúng cách cho ông đọc lại. Bài thi của Lê Văn Thịnh khiến ông rất ưng ý. Lê Văn Thịnh xứng đáng giật bảng vàng. Cho Thịnh thủ khoa kỳ thi cao nhất lần đầu tiên của Đại Việt là không có gì phải băn khoăn. Vòng thi thứ ba này, Lê Văn Thịnh đã làm ông không chỉ ưng ý mà tâm phục, khẩu phục. Quan Thái sư muốn thử tài Lê Văn Thịnh ở mức cao nhất mà những người trẻ tuổi, chưa trải việc đời, chỉ thông hiểu sách thánh hiền khó mà trả lời được. Lý Đạo Thành muốn cho Lê Văn Thịnh bất ngờ. Ông hỏi:
– Học trò vừa nhắc đến trung dung, vậy tư tưởng “Thời trung” của Khổng Tử, lời diễn giải “Trung dung” của Tử Tư, có gì khác với quan niệm “Trung đạo” của Phật giáo và Đạo giáo?
Vậy là cuộc vấn đáp không nằm trong khuôn khổ cuộc thi nữa. Quan Chánh chủ khảo hỏi sang kiến thức tam giáo Phật – Đạo – Nho. Kinh sách nhà Phật, giáo lý Đạo giáo không được truyền dạy cho học trò. May thay từ lúc nhỏ ham đọc sách, Lê Văn Thịnh đã ngốn ngấu tủ sách của cha. Bất kể cuốn gì cũng đọc. Thịnh từng bị cha mắng vì đọc xô bồ, ôm đồm. Không ngờ sách gì đã đọc đều chạm khắc vào trí nhớ. Lê Văn Thịnh lục lại. Quan niệm “Thời trung” được coi là cái gốc triết học và đạo đức của Khổng Tử. Tử Tư diễn giải sáng rõ hơn quan niệm trên của ông nội mình trong tác phẩm “Trung dung”. Tư tưởng “Trung đạo” của Phật giáo thì ít người biết. Lê Văn Thịnh nhớ câu chuyện đức Phật nhận ra nhiều phật tử lấy sự khổ hạnh để tu hành. Lại có nơi phật tử lấy sự hưởng thụ (ngũ dục) để tu hành. Vậy là không đúng với quan niệm tu hành của Phật giáo. Phật dạy chúng sinh không thiên lệch bên này hoặc bên kia. Còn Đạo giáo cũng đề cao sự cân bằng cho cuộc sống phát triển. Cái sợi dây kết nối quan điểm của “Tam giáo” đã hiện ra. Vậy thì “Nho”, “Phật” “Đạo” không khác nhau trong quan điểm “Trung đạo”. Và lần nữa Lê Văn Thịnh nhớ hai chữ “trung dung” này cũng chính ông chủ quán nước kỳ dị bên sông Thiên Đức nhắc tới. Thịnh tin chắc thế và trả lời:
– Thưa quan Chánh chủ khảo, theo sự hiểu biết nông cạn của học trò thì quan niệm “Trung đạo” của Phật giáo, Đạo giáo và tư tưởng “Thời trung”, “Trung dung” của Nho giáo có cái lõi không khác nhau ạ. Phật giáo nói: “Nhân duyên sở sanh pháp/ Ngã thuyết tức thị không/ Diệc danh vi giả danh/ Diệc danh trung đạo nghĩa”. Đức Khổng Tử nói:“Dịch đạo thâm, nhất ngôn dĩ tế chi, viết thời trung”. Đạo giáo đề cao sự “cân bằng” mới tạo cho suộc sống phát triển. Theo thế, học trò nghĩ các bậc thánh hiền, chân tu, đạo sĩ đều khẳng định “Trung” là quy luật của sự vận động
Vị đại quan đầu triều, bậc túc nho uyên thâm nhất vương triều Lý vô cùng hoan hỷ. Lê Văn Thịnh đứng đầu cả hai vòng thi. Đĩnh đạc trả lời rất rành rẽ, thông minh các câu hỏi tuyệt khó ở vòng thi đình đối. Chứng tỏ chàng Nho sinh
này không chỉ có tài học siêu phàm. Ở Thịnh còn lóe lên phẩm chất của một người có tài kinh bang tế thế. Thái sư Lý Đạo Thành như reo lên: “Người kế việc cho đại nhân Thái úy Lý Thường Kiệt và ta đây rồi”.
Ra khỏi phòng thi, Lê Văn Thịnh mới thấy hai đầu gối tưởng sụn xuống. Mồ hôi mồ kê lúc đó mới tuôn ra đầm đìa. Mà kỳ lạ, mỗi lần cái lạnh chạy dọc sống lưng, mồ hôi rịn ra nơi chân tóc là Lê Văn Thịnh nhớ tới cuộc gặp và đàm đạo với ông chủ quán nước kỳ dị đêm nào. Hình như buổi đàm đạo đêm đó là lời mách bảo trước cho Lê Văn Thịnh. Gặp câu hỏi quá khó Thịnh lại như được kỳ nhân đêm ấy hiện lên. Cái đêm trên quán nước ven đê sông Thiên Đức, thần nhân đã đón Thịnh và giúp Thịnh chứ không phải người thường.
Tin Lê Văn Thịnh giật giải thủ khoa, cướp được bảng vàng bay như cơn bão về thôn Bảo Tháp. Người dân giáp Đông Cứu quê cha, giáp Quách bì quê mẹ và nơi Lê Văn Thịnh ngồi bảo học ở Chi Nhị đều tràn ra đường ăn mừng. Môt lễ “Vinh quý bái tổ” chưa từng có diễn ra mấy ngày trời. Ba chàng đại khoa phủ Thiên Đức đã làm cho mảnh đất nghèo này trở nên lừng lẫy.
Để giúp bạn hiểu rõ hơn về nội dung, sau đây là phần chú thích của chương 9. Mời bạn nghe cùng BÚC CÁC:
(18) “Tụng thánh”, đoạn văn ca ngợi, chúc tụng nhà vua bắt buộc sĩ tử phải
viết trên phần mở đầu bài thi.
(19). Sử sách ghi là đỗ “thủ khoa”. Tác giả gọi “trạng nguyên khai khoa” để phù hợp tình cảm và cách gọi bao lâu của người dân đối với nhân vật lịch sử này. Cho dù phải đến năm 1247, danh xưng “trạng nguyên” mới được nhà Trần phong cho vị trí đỗ đầu trong các kỳ thi Đình. Ba vị trí đứng đầu thi Đình gồm: trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa.