Ngày Lê Văn Thịnh đi thi, Hoàng Mai cùng nàng Doãn tiễn một thôi đường dài. Họ lên một con thuyền nan theo dòng sông Dâu xuống hết hương Thuận Thành. Từ đây Lê Văn Thịnh qua một cánh bãi. Bên kia bờ đất ven sông Thiên Đức là bến đò ngang vào kinh thành. Đây là lần đầu tiên Lê Văn Thịnh bước chân ra khỏi quê hương Thiên Đức. Chuyến đi khởi nghiệp, chuyến đi vào đời. Con sông Dâu bữa ấy chứng kiến bước chân giằng níu, ánh mắt tình tứ phút chia tay giữa chàng Nho sinh Lê Văn Thịnh và cô thôn nữ Doãn Hoàn Doãn. Lê Văn Thịnh phải dứt quyết quay đi, Doãn Hoàn Doãn và Hoàng Mai mới chịu trở về.
Rảo bước thật nhanh mong kịp chuyến đò muộn. Nhưng trời sập tối còn nhanh hơn. Bến sông vắng tanh. Nhìn trước nhìn sau chỉ thấy một ngôi quán nước chơ vơ như cái chòi đón gió. Quán đứng cạnh con dốc xuống bến. Trong quán le lói ánh đèn. Lê Văn Thịnh gõ cửa xin phép nghỉ nhờ. Chủ quán ngắm Thịnh từ đầu tới chân, khẽ gật đầu.
Ông chủ quán tướng mạo phi phàm. Hai mắt xếch, quắc sáng. Bộ râu phất phơ. Tóc búi củ hành, cài ngang một cán bút bằng sừng trông rất dị. Trang phục, hành trạng chẳng ra đạo sĩ. Chẳng ra tăng lữ. Cũng không giống người xuất gia tu hành. Tuổi có lẽ đã ngoại tứ tuần. Sau phút bỡ ngỡ ban đầu, chủ khách trò chuyện có phần thoải mái hơn. Chủ quán có khiếu nói chuyện. Biết chàng Nho sinh trên đường vào kinh ứng thí Minh kinh bác học, ông ta mở lòng. Đàm đạo vài câu Lê Văn Thịnh càng thấy đây không phải một chủ quán nước bình thường. Kiến văn muôn phần viên mãn. Thông kinh bác cổ. Lời ông ta cuốn Lê Văn Thịnh mê theo từ lúc nào. Chủ quán gọi Thịnh là người quân tử. Lê Văn Thịnh thưa gửi cung kính, gọi chủ quán là tiên sinh đại nhân.
– Thưa tiên sinh đại nhân, kẻ học trò này tuy có biết võ vẽ dăm ba chữ thánh hiền, ngồi bảo học vài ba đứa ấu nhi, nhưng kiến văn nông cạn, chưa trải việc đời, còn nhiều lầm lẫn không dám nhận hai chữ quân tử ạ.
Chủ quán thấy khách trẻ tuổi mà khiêm nhường, cốt cách nhu mì, nói năng vững chãi, lễ độ khoan hòa thì mến lắm. Ông viện lời Khổng Tử: “Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ. Nhân bất tri nhi bất uấn, bất diệc quân tử hồ” (15).
Lê Văn Thịnh cung kính vái, rồi hỏi về chuyến đi thi của mình:
– Thưa tiên sinh đại nhân, kẻ học trò xin thụ giáo, chẳng hay chuyến này về kinh ứng thí kết quả thế nào?
Chủ quán dường như vẫn chưa rời mạch suy nghĩ. Ông nói say sưa:
– Người quân tử sinh ra ở đời cần giác ngộ bốn chữ “Thành dĩ an mệnh”. Đó chính là đạo lí để sáng rõ phép tắc của thiên địa. Một khi đã thấu tỏ âm dương, tu sửa đường chính mệnh, lựa chọn đúng thời cơ thì mới mong hiển đạt.
Lê Văn Thịnh phân vân:
– Thưa tiên sinh đại nhân, lời người cao siêu kẻ học trò dốt này không thấu được sự thâm sâu của mấy lời đó ạ.
– Muốn “an mệnh” phải hiểu quy luật của thiên nhiên. Muốn “thành dĩ” phải nhuần quy tắc trung dung. Đó là cái gốc để giác ngộ.
Lê Văn Thịnh lại thưa:
– Học trò có đọc Kinh Dịch, biết hai chữ “thời trung”. Nhưng cảm thấy mới chỉ hiểu cái vỏ của đạo lí, chứ chưa đạt tới bốn chữ “Thành dĩ an mệnh” để “Thẩm thời độ thế” ạ.
Chủ quán hoan hỉ:
– Vậy là người quân tử đã chạm tới cái huyền sâu của Kinh Dịch. “Dịch đạo thâm, nhất ngôn dĩ tế chi, viết thời trung” (16). Khổng Tử là bậc thánh về thời trung. Khi viết “Thoán truyện” ngài nói: “Quân tử mà thời trung”. Thấu tỏ vậy là khởi sự tốt đẹp vậy.
Lê Văn Thịnh:
– Thưa tiên sinh đại nhân, nhưng học trò cảm thấy mình vẫn chỉ như con vẹt. Chấp chới trên cái thẳm sâu của chữ thánh hiền. Rất mong tiên sinh khai tâm cho học trò cái sự trùng, khác giữa thời trung và trung dung ạ.
Chủ quán vuốt râu cười sảng khoái. Giọng chập chồi như tiếng hạc trong đêm:
– Khác đấy mà không khác đấy. Khổng Tử cho rằng: “Người quân tử mới “thời trung”. Kẻ tiểu nhân không “thời trung”. “Thời trung” là quy luật vận động của sự vật. Giữ sự cân bằng không thiên lệch. Lời dạy của Khổng Tử: “Thời trung là cái đức tốt cao đến cực điểm”. Tử Tư cháu nội Khổng Tử viết “Trung dung” làm sáng rõ thêm tư tưởng của ông mình: “Trung dung làm chuẩn mực đạo đức và quy luật tự nhiên cao nhất”. Con người ta phải giữ được sự cân bằng mới phát triển. Cái giống nhau là chính cái khác nhau chỉ là phụ.
Lê Văn Thịnh hồ hởi:
– Lời tiên sinh khiến kẻ học trò đang trong bóng tối bước ra chỗ sáng. Ngoài thiên thời, kính xin tiên sinh chỉ bảo cho sự thuận nghịch của địa lợi, nhân hòa ạ.
Chủ quán mỉm cười với tay lấy cái que chống phên cửa sổ. Ánh trăng như làn sóng bạc ùa vào. Trăng hất hai cái bóng dị hình lên vách nứa. Gió tạt qua tạt lại như có như không, méo mó tựa bóng ma. Ông ta cầm hai bàn tay người khách trẻ lật ngửa, lật úp lướt qua lướt lại. Mắt nhìn săm soi. Ánh nhìn chợt sáng chợt tối, nói vu vơ:
– Vận khí trời đất. Nguyện ước con người. Duyên đủ. Duyên đủ. Nhân duyên gặp thời.
Lê Văn Thịnh hỏi như kẻ đang khát:
– Nước nhà đang buổi thịnh trị, người quân tử lập công danh ra sao?
Chủ quán lại dẫn lời Khổng Tử:
– “Đa văn khuyết nghi, thận ngôn kỳ dư, tắc quả vưu; đa kiến khuyết đãi, thận hành kỳ dư, tắc quả hối. Ngôn quả vưu, hành quả hối, lộc tại kỳ trung hĩ. (Hãy nghe nhiều, điều gì chưa tỏ thì giữ lại, điều gì hiểu rõ thì nói ra, như thế ít lỡ lầm. Phải thấu sát, điều gì chưa chắc chắn thì đừng làm, vậy thì việc chi phải hoang mang. Làm đúng thì bổng lộc nằm trong ấy rồi).
Lê Văn Thịnh thấy có luồng khí dâng lên vần vũ trong kinh mạch:
– Xin tiên sinh chỉ cho hậu vận họa, phúc thế nào. Kẻ học trò này thấy thật hoang mang ạ?
Chủ quán trầm ngâm nhìn Thịnh buông lời vu vơ. Như tiếng gió, như tiếng vọng thinh không. Không phải tiếng người:
– Nhân duyên hòa hợp, mọi pháp hữu vi, đều do nhân duyên hòa hợp mà thành. Trăng no vằng vặc đấy. Vực đen thăm thẳm đấy… Vực đen thăm thẳm đấy…
Thịnh lạnh buốt ở sống lưng. Lòng bồn chồn kinh sợ. Không hiểu dị nhân nói gì. Mồ hôi rịn ra nơi chân tóc. Tiếng chủ quán lại chập chồi như vỗ về:
– Duyên hợp như huyễn. Giả tướng giả danh. Hư hư thực thực. Vô ngã tính không. Có có, không không. Tất thảy đều mộng ảo… Hết thảy đều là mộng ảo.
Lê Văn Thịnh nhập tâm lời chủ quán mà không tỉnh ra được. Lơ mơ trong thôi miên. Lúc sau, chủ quán đứng dậy. Lê Văn Thịnh bừng ngộ muốn hỏi nữa. Ông ta phất áo đi vào nhà trong. Giọng rơi văng vẳng:
Thân như bóng chớp chiều tà
Cỏ xuân tươi tốt thu qua rụng rời
Sá chi suy thịnh việc đời
Thịnh suy như hạt sương mai đầu cành (17).
Lê Văn Thịnh chìm vào mê mụ từ lúc nào.
Trời sáng. Mặt sông Thiên Đức nhờ nhờ như dải lụa non. Lê Văn Thịnh trở dậy tìm chủ quán để nói lời tạ ơn nhưng gian quán trống trơ, lạnh lẽo. Thịnh nổi gai khắp người. Chàng cố nhớ lại câu chuyện với vị chủ quán kỳ dị đêm qua mà không biết là thực hay mộng. Chẳng thấy dấu vết gì là đã có người ở cùng Thịnh đêm qua. Lê Văn Thịnh nhắm chặt mắt, lắc mạnh đầu. Không thể hiểu nổi. Lời chủ quán văng vẳng bên tai: “Duyên đủ. Duyên đủ. Nhân duyên gặp thời… Trăng no vằng vặc đấy. Vực đen thăm thẳm đấy…Vực đen thăm thẳm đấy…”.
Lê Văn Thịnh sang chuyến đò sớm vào Thăng Long, lòng không rũ bỏ được nỗi ưu tư, lo lắng.
… Nguyễn Ứng Sinh quả là người nhanh nhẹn, sáng ý. Chỉ ít ngày anh ta đã thu xếp chu đáo chỗ ở cho mấy bạn ngay bên cạnh hồ Lục Thủy. Từ đó đến trường thi rất gần.
Hai ngày nữa mới phải tập trung nghe phổ biến quy chế thi. Lê Văn Thịnh rủ các bạn rong ruổi thăm phố thị kinh thành. Chàng thích nhất đứng trên cây cầu Gỗ ngắm dòng nước chảy từ hồ Lục Thủy ra sông Nhị Hà. Nhắm mắt tưởng tượng ngày trước cha mình ra kinh đô theo học thầy Lý Công Ân, không biết đã có cây cầu này chưa nhỉ?
Cảnh trên bến dưới thuyền thật vui mắt. Lê Văn Thịnh chợt ước dịp nào đó được cùng nàng Doãn, cùng em Mai cầm tay nhau sánh bước trên cầu này. Cầu Gỗ? Hay nhỉ cầu bằng gỗ thì có gì lạ đâu. Vậy mà thành tên cây cầu.
Tốp sĩ tử phủ Thiên Đức dành cả ngày đi chơi. Thịnh bảo đừng nghĩ đến bài vở nữa. Quên hết kinh sách đi. Cho đầu óc nghỉ ngơi hoàn toàn. Rồi bao nhiêu điều đã học sẽ hiện ra. Cứ luẩn quẩn mãi, lo lắng mãi chẳng ích gì. Đầu
óc mụ mẫm thì khó mà làm nổi bài. Mọi người đồng thuận. Bốn chàng trai dạo theo những dãy phố buôn bán sầm uất nhất Thăng Long. Mỗi phố thị bán một loại hàng. Xem không chán mắt. Hàng lụa. Hàng thiếc. Hàng Hòm… Qua dãy quán bán thuốc bắc thơm lừng, đến hàng Mã thì thật sự ngỡ ngàng. Muôn sắc mầu của giấy. Vàng, mã, đèn lồng, mặt nạ… Thôi thì đủ kiểu, đủ mầu. Mùa xuân, tiết xuân dường như chưa rời khỏi chốn kinh kỳ hoa lệ này. Mỗi chàng nho sinh mua một cặp bánh khúc. Vừa đi vừa ăn. Trở lại cầu Gỗ, chân đã mỏi. Họ ngồi bệt bên hồ Lục Thủy. Nguyễn Lượng quên mất thỏa thuận lại khới chuyện thi cử ra. Lượng bảo:
– Ngu đệ đoan chắc Lê Văn Thịnh huynh sẽ giật thủ khoa lần này.
– Ơ đã thỏa thuận không nói chuyện thi cử trong ngày hôm nay mà.
– Nhưng đệ không rũ bỏ được. Nó cứ bám chặt trong đầu.
Thấy Lê Văn Thịnh và Nguyễn Lượng tranh luận nhưng chẳng ai tham gia. Hà Ngô Tự nằm ngửa trên bãi cỏ ven hồ cất tiếng nghêu ngao:
Ước gì vượt được Vũ Môn
Để đem kinh sử, văn chương giúp đời
Tang bồng phỉ chí người ơi.
Để giúp bạn hiểu rõ hơn về nội dung, sau đây là phần chú thích của chương 8. Mời bạn nghe cùng BÚC CÁC:
(15) Đại ý rằng: Đọc sách có chữ rồi đem luyện tập qua dạy người khác, không phiền lòng khi có người chưa hiểu, thế là quân tử đấy.
(16). “Kinh Dịch rất thâm sâu, nhưng tựu trung lại là “thời trung”.Theo: “Thiên thời, địa lợi, nhân hòa” NXB Văn hóa thông tin, năm 2001. Tr.15.
(17). Trích bài kệ của thiền sư Vạn Hạnh.