CHƯƠNG 3: THỬ THÁCH ĐẦU ĐỜI


Cuộc sống ngỡ cứ hanh thông như thế. Vậy mà bất hạnh ập đến. Năm Lê Văn Thịnh 17 tuổi, ông đồ Lê Thành bất ngờ trúng gió cấm khẩu. Chưa đầy tuần trăng, ông trút hơi thở trên tay vợ con. Lê Văn Thịnh trở thành trụ cột gia đình từ đó. Kế nghiệp cha bảo học, bốc thuốc, Thịnh còn phải cầy bừa trên mảnh ruộng nhà lấy thóc nuôi ba mẹ con. Em gái Thịnh chớm tuổi mười ba đã phải cùng anh cáng đáng việc đồng áng. Việc dạy chữ, việc chữa bệnh, làm ruộng cuốn hết thời giờ của Lê Văn Thịnh. Đang tuổi trưởng thành Thịnh lao vào công việc cố quên nỗi buồn. Tưởng rồi đau đớn sẽ nguôi dần nào ngờ, quá cô quạnh, trái tim quả phụ Trần Thị không chịu nổi. Bà đổ bệnh sầu não, một năm sau thì đi theo chồng.

Anh em Lê Văn Thịnh như cái nhà trơ trọi không nóc. Trên đầu lồng hai chiếc khăn tang, Thịnh vật vã đập mặt xuống đất mà kêu trời. Máu hòa nước mắt suốt mấy ngày liền. Ba năm mặc áo xô, đi chân đất chịu tang cha, mẹ. Một mực tiếc thương cung kính. Đoạn tang, không dám ở lại trong ngôi nhà quá đậm hình bóng mẹ cha, Thịnh dắt em gái rời Bảo Tháp về quê ngoại Thi xá, Quách Bì, hương Quế Võ. Hoàng Mai được người bác anh mẹ nuôi cho. Căn nhà ở Bảo Tháp trở thành từ đường. Ngày rằm, mùng một hoặc dịp lễ tết, húy kỵ Lê Văn Thịnh cùng Hoàng Mai về thắp hương cha, mẹ. Nhưng nỗi đau phận mồ côi quá sớm khiến Lê Văn Thịnh không thể tĩnh tâm. Để có người trông coi, Thịnh cho người bạn thân Hà Ngô Tự bảo học ở đấy. Lê Văn Thịnh sang thôn Chi Nhị, giáp Song Giang mở lớp. Năm ấy Lê Văn Thịnh vừa tròn hai 20 tuổi.

Cũng như cha, cái tiếng hay chữ của thầy đồ trẻ Lê Văn Thịnh kéo học trò quanh vùng tới Chi Nhị ngày một đông. Những bạn thân nhất vẫn thường đến động viên Thịnh. Các ông đồ trẻ lại say mê chuyện nghề, đàm đạo văn chương. Hà Ngô Tự, Nguyễn Lượng, Nguyễn Trực Nhẫn và Lê Văn Thịnh, bốn học trò giỏi giang nhất của thầy Lê Thành không bỏ kỳ lễ hội lớn nào.

Thiên Đức vùng đất văn hóa cổ đặc sắc. Tuy cùng mang sắc thái của nền văn minh lúa nước Đại Việt, song mỗi hương, mỗi giáp lại có nét độc đáo rất riêng của vùng bình nguyên này. Hào quang từ cổ thành Luy Lâu xưa, nơi được coi là “kinh đô” thứ hai sau Loa Thành thời An Dương Vương, dường như vẫn phát sáng tới giờ. Con sông Dâu mềm mại thướt tha tựa dải lụa muôn mầu nối các ngôi chùa cổ làm nên đại lễ hội Tứ Pháp lừng danh. Nó chính là sợi long mạch nối dòng Nhị Hà qua vùng địa linh phát tích vương triều Lý, tới thành Luy Lâu, lượn quanh chân núi Thiên Thai rồi đổ ra biển. Từ ngày còn nhỏ tuổi Lê Văn Thịnh đã thuộc nằm lòng câu ca:

Lênh đênh ba bốn thuyền kề

Chiếc ra cửa bể chiếc về sông Dâu

Hội Tứ pháp (7) mùng 8 tháng 4 là lễ lớn nhất trong năm, diễn ra vào đúng ngày sinh đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Nó còn được gọi: Hội chùa Dâu. Câu ca dao cổ đã ngấm vào trí nhớ và tình cảm mọi người:

Dù ai đi đâu về đâu

Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về

Dù ai buôn bán trăm nghề

Tháng tư ngày tám thì về hội Dâu

 Hội Dâu nắm ấy trời như chiều lòng mấy chàng Nho sinh Đông Cứu. Tháng tư mà dường như dáng xuân, hơi xuân vẫn còn đậm đà mỗi nhành lộc non, trên gương mặt khách trẩy hội. Sông Dâu như một chuỗi hoa. Một dòng sông hoa. Xiêm y, ô nón lớp lớp ngời lên, ngời lên trong ánh nắng rót mật. Gió đưa hương đồng nội, hương hoa rừng nồng nàn càng khiến các chàng Nho sinh mê đắm. Thực là:

Trập trùng núi dựng phên thành

Bóng in mặt nước như tranh họa đồ

Hữu tình thay vẻ bầy phô

Giai nhân, quân tử ngẩn ngơ ngắm nhìn

 Trên sông Dâu từng tốp thuyền lướt đi. Cờ phướn rực hồng mặt nước. Ca nương, đào kép trang phục mớ ba mớ bảy vô cùng vui mắt. Tiếng hò lảnh lói lúc trầm lúc bổng như giục đôi chân khách mau mắn hơn.

Xuân đem ánh sáng cầu vồng

Vẽ nên cảnh sắc muôn trùng thắm tươi

Kìa lữ khách bốn phương trời

Mau về Thiên Đức dạo chơi tỏ tình.

Kỳ hội này, Nguyễn Lượng vắng mặt. Ba chàng Nho sinh thong dong bước xuống một con đường hẹp đi tắt tới bãi hội. Họ tránh con đường lớn chen chân dòng người đông đúc.

Từ ngày tin triều đình sắp mở khoa thi, mỗi lần gặp nhau các Nho sinh đều muốn khoe với bạn sự học ngày càng tấn tới của mình. Mỗi lần đàm đạo cùng Lê Văn Thịnh các bạn đều muốn học thêm từ Thịnh kiến thức. Tuy cùng học một thầy, cùng thụ giáo theo tư tưởng Nho gia nhưng thiên hướng, sự ái mộ và sở đắc của mỗi người lại có chút khác nhau. Hà Ngô Tự ngưỡng vọng Khổng Khâu. Nguyễn Lượng ngả về Tử Tư. Còn Lê Văn Thịnh cân bằng trong sự hiểu biết cả Nho, Phật, Đạo. Song nếu hỏi trước tác của vị nào mà Thịnh tâm đắc, nhắc đến nhiều nhất thì chính là Mạnh Tử. Quan điểm của bậc Á thánh này rất gần gũi với tư tưởng trị quốc, an dân.

  Trong mấy bạn học, Hà Ngô Tự, Nguyễn Lượng hơn Thịnh một tuổi. Nguyễn Trực Nhẫn thua Thịnh một tuổi. Nhưng đối đáp với nhau họ giữ lễ khiêm nhường xưng với bạn là ngu đệ, gọi bạn là hiền huynh. Đôi khi là tại hạ, túc hạ… Hiểu ý các bạn, Lê Văn Thịnh bảo:

– Ngu đệ gần đây có chuyên tâm hơn về hai nội dung nếu triều đình mở khoa thi sẽ dễ ra đề.

Hà Ngô Tự thốt lên:

– Hay quá, vậy thì đúng nỗi trăn trở của đệ bấy lâu nay. Bao công sức học hành. Bể học thì mênh mông. Cứ dàn trải ra, có khi chữ thừa mà đi thi vẫn bị cách tuột như chơi.

Nguyễn Lượng hối thúc:

– Nghe hai hiền huynh, đệ đây nóng lòng lắm rồi. Các huynh nói ngay ra xem nào.

Hà Ngô Tự, Nguyễn Lượng cùng có ý chờ Lê Văn Thịnh. Với họ, Thịnh vẫn là người giỏi nhất. Xét đoán mọi việc của Thịnh đều trúng, đều chuẩn. Bốn năm Thịnh ngồi dạy học, đọc sách học vấn càng thêm thăng tiến. Hiểu ý các bạn, Thịnh nói:

– Ngu đệ cho rằng đây là khoa thi đầu tiên kén người ra làm việc nước nên dễ mà vua sẽ hỏi nhiều về đạo người quân tử. Hỏi về quan niệm trung quân, xã tắc, chúng dân.

Nguyễn Lượng vỗ tay:

– Xác đáng, xác đáng. Khoa thi đầu tiên của triều đình thì chưa nặng về bình văn hay soạn chiếu, biểu. Đệ cũng nghĩ như thế. Vậy theo hiền huynh ta nên tập trung vào kinh sách nào?

– Không ra khỏi “Tứ thư, Ngũ kinh” mà trọng tâm dễ rơi vào “Luận ngữ”. Nên nghiền ngẫm những lời bàn của đức Mạnh Tử, Khổng Tử và các bậc Tứ phối về đấng quân vương về đạo người quân tử đối với xã tắc, muôn dân.

Hà Ngô Tự:

– Lê hiền huynh cho một vài ví dụ được không?

– Ví như lời Mạnh Tử:“Nước mà trông cậy để đứng vững được là nhờ ở ba điều: Một là dân; hai là xã tắc; ba là vua…Vua tuy là chúa tể cả thần, dân nhưng kỳ thực cũng phải nhờ lòng dân có yêu mến, xã tắc có yên ổn thì mới lâu dài được. Thế thì vua ví với dân, với xã tắc, vua là khinh”.

Thấy hai bạn trầm tư, Lê Văn Thịnh giải thích:

– Lời của đức Á thánh này rất tân tiến, cao siêu nhưng cũng thật mạnh bạo.

Khi làm bài viện dẫn điều gì động đến thiên tử, thì phải hết sức cẩn trọng. Lời dẫn, sách dẫn phải rõ ràng. Nói có sách là thế.

Hà Ngô Tự tham gia:

– Khổng Tử cũng nói rằng: “Vua là chúa tể quốc gia như điều khiển nghìn cỗ xe, phải giữ điều tín. Yêu mến dân, dùng sức dân phải thích hợp”.

 Nguyễn Lượng tham gia:

– Ngu đệ đọc thấy nhiều lời bàn của các bậc thánh về mối quan hệ giữa vua với dân với xã tắc. Nay nghe luận giải của hai huynh càng rõ ra. Vậy từ nay đến ngày đi thi cần chuyên sâu hơn vào mấy nội dung đó. Về đạo quân tử, ngu đệ rất thích lời đức Khổng Tử răn rằng:“Quân tử ăn không cầu no, cư vô cầu toàn, xử việc minh mẫn mà ngôn từ thận trọng, đó được coi là chính đạo, có thể gọi là người hiếu học”.

Lê Văn Thịnh vỗ tay:

– Thế là huynh đệ ta hôm nay đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu. Ngoài nội dung trên ta cần tập trung ôn luyện, nhớ lời các thánh hiền luận về chữ trung, chữ hiếu nữa. Triều đình hẳn cũng rất trọng điều này. Đức Khổng Tử và Á thánh Mạnh Tử có một đoạn hỏi đáp rất hay.

Hà Ngô Tự và Nguyễn Lượng như vồ lấy:

– Như thế nào huynh chỉ giáo cho bọn đệ.

Lê Văn Thịnh gõ gõ ngón tay lên trán nhớ lại:

– Đức Mạnh Tử hỏi về đạo Hiếu. Khổng tử nói: “Không được làm trái lễ”. Khổng tử nói thêm “Khi cha mẹ còn sống, phải theo lễ mà phụng sự. Cha mẹ khuất bóng đi rồi thì theo lễ mà an táng, theo lễ mà cúng tế”. Không chỉ lời đức Khổng Tử, cần nhớ cả lời các học trò của ngài nữa. Tỷ như Tăng Tử bàn rằng: Mỗi ngày tôi tự xét mình ba điều. Mưu việc cho người khác thành tâm chưa? Kết giao bạn bè đã giữ chữ tín chưa? Kiến thức thầy truyền dạy, đã luyện tập chưa?”. Còn một học trò xuất sắc nữa của đức Khổng Tử là Tử Hạ thì viết:“Trọng hiền tài hơn nữ sắc; đối đãi với cha mẹ tận lực; thờ vua liều chết quên thân, giao lưu bạn hữu nói lời tin cậy. Người như vậy tuy không đi học, ta coi là người có học”.

Hà Ngô Tự vô cùng hoan hỉ:

– Vậy là sáng ra rồi. Ngu đệ nghĩ dù đề ra thế nào thì cũng khó ngoài lời bàn của các bậc thánh hiền về mấy vấn đề trên.

Nguyễn Lượng nói:

– Mấy ý gom lại thế này, hai huynh cho là phải chưa. Làu thông phận sự của người học chữ thánh hiền đối với xã tắc, với chúng dân. Tuân theo đạo quân thần, giữ lễ thần tử. Làm tròn chữ hiếu, chữ trung.

 Lê Văn Thịnh:

– Đúng thế. Nói thì ngắn gọn, đơn giản nhưng phải vận dụng rất rộng kinh sách. Mấy năm nay đệ nghiền ngẫm thấy hầu như đều nằm cả trong hai bộ “Luận ngữ” và “Trung dung”. Ở đó các bài dạy làm người, dạy làm chúng dân, dạy làm thầy giáo, dạy làm quan và dạy làm vua đều có cả. Mỗi huynh nên đặt ra

những câu hỏi cho mình và trả lời. Như thế khi làm bài sẽ tự tin hơn.

Hà Ngô Tự và Nguyễn Lượng cùng thuận tình:

– Vậy “Luận ngữ”, “Trung dung” chính là sự tinh kết của “Tứ thư, Ngũ kinh”.

Lê Văn Thịnh:

– Vâng. Giá trị của “Tứ thư, Ngũ kinh” đều tụ lại trong “Luận ngữ”, “Trung dung” và một phần trong “Kinh dịch”. Nếu có thời gian hai hiền huynh đọc rộng ra. Nhưng “Kinh dịch” chú trọng vào bấm độn, bói quẻ nên chắc triều đình không dựa vào đó ra đề.

Hai bạn học vái Lê Văn Thịnh. Thịnh vái lại. Ba chàng nho sinh giáp Đông Cứu mải miết say mê luận bàn. Vậy là dù đi chơi họ đã bổ sung cho nhau đường hướng ôn rèn kiến thức. Đôi chân như nhẹ nhàng hơn. Lòng muốn cất lên cao niềm hứng khởi, trông đợi và hy vọng vào kỳ thi tới.

Để giúp bạn hiểu rõ hơn về nội dung, sau đây là phần chú thích của chương 3. Mời bạn nghe cùng BÚC CÁC:
 

(7). Lễ hội Tứ Pháp là ngày thờ bốn vị thần: Mây, Gió, Sấm, Chớp. Chùa Dâu thờ thần Pháp Vân; chùa Đậu thờ thần Pháp Vũ; chùa Tướng thờ thần Pháp Lôi và chùa Dàn thời thần Pháp Điện. Chùa Dâu lớn nhất, còn gọi chùa Phật Tích, được coi là nơi phát tích Phật Giáo. Chùa nằm trong thành cổ Luy Lâu xưa. (Nay thuộc xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh).