Năm 938, Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng lập nên nhà Ngô (939). Vị Tổ Trung hưng đưa nước ta thoát khỏi ách ngàn năm đô hộ của phong kiến phương bắc.
Trải bảy mươi năm ba triều đại Ngô, Đinh, Lê dẹp loạn sứ quân, củng cố độc lập, đánh tan quân Tống xâm lược lần thứ nhất, hoàn thành xây dựng một nền chính trị vương triều sơ khai thì nhà Lý xuất hiện (1009).
Năm 1010, Thái tổ Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long. Đây được coi là cái mốc khẳng định nền độc lập, tự chủ, ổn định và bắt đầu thời kỳ phát triển. Năm 1054, vua Lý Thánh Tông đổi tên nước thành ĐẠI VIỆT mở ra khát vọng về một quốc gia hùng cường. Ba triều đại nối nhau Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông là giai đoạn phát triển cường thịnh nhất vương triều Lý. Được ca ngợi là: “Bách niên thịnh thế”. Thời kỳ này xuất hiện những nhân tài kiệt hiệt giúp vua trị nước. Tiêu biểu là thái úy Lý Thường Kiệt; thái sư Lý Đạo Thành; Thần phi nhiếp chính hoàng thái phi Ỷ Lan; thái sư, trạng nguyên Lê Văn Thịnh.
Nhà Lý xác lập văn hóa cai trị dựa trên tư tưởng quân chủ Nho giáo nhưng chấp nhận “Tam giáo đồng nguyên”. Phật – Đạo – Nho cùng tồn tại. Lấy Phật giáo làm quốc đạo. Ngay sau khi rời đô, Thái tổ Lý Công Uẩn cho xây dựng gần chục ngôi chùa ở Thăng Long. Cử tăng lữ sang nước Tống xin kinh Phật về giáo hóa chúng sinh. Chùa lúc này ngoài chức năng thờ Phật, còn được coi là các trường học khai tâm. Vua Lý Thái Tông sau khi kế ngôi cho xây dựng lầu Chính Dương vào năm Kỷ Tị (1029). Đây là nơi soạn lịch, định ra giờ khắc. Tiếp đến năm Nhâm Ngọ (1042) ban lệnh soạn bộ Hình thư (được coi là bộ Luật đầu tiên thời phong kiến).
Sáu mươi năm nhà Lý định đô tại Thăng Long, theo “Đại Việt sử ký toàn thư”, NXB Hồng Đức, 2020, tr 244: “Canh Tuất (1070), mùa thu, tháng 8, làm Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối, vẽ tượng Thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế, Hoàng thái tử đến đấy học”. Bính Thìn (1076) Thái Ninh năm thứ 5, xây Quốc Tử Giám: “Mùa hạ, tháng 4… Xuống chiếu cầu người nói thẳng. Cất nhắc những người hiền lương có tài văn võ, cho quản quân dân. Chọn quan viên văn chức, người nào biết chữ cho vào Quốc Tử Giám” (tr. 250).
Những việc làm đó khích lệ rất mạnh và rộng khắp phong trào học chữ thánh hiền. Dẫu triều đình chưa có chính sách, định lệ rõ ràng. Nhưng thôn ổ xa gần, trong các chùa làng, đình làng, sân miếu tiếng trẻ khai tâm vỡ lòng TAM TỰ KINH đã vang lên. Giới thầy đồ được dân nuôi, kính trọng. Khát vọng hiểu biết. Khát vọng khám phá và làm chủ cuộc sống được nhen nhóm từ các lớp học này. Một chuẩn bị tất yếu, rõ nhất cho sự phát triển, tiến bộ. Đáp ứng đòi hỏi nội tại của đất nước tự cường.
Nhà Lý đề cao Phật giáo, nhưng tuyển trạch nhân tài theo Nho giáo là nhận ra yếu tố hữu ích của nó. Nêu cao đạo người quân tử lấy “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín” làm phẩm chất. Quan điểm nhập thế tích cực và tu thân của Nho giáo là chìa khóa giúp giải quyết mối quan hệ giữa vua – tôi, cha – con, vợ – chồng, anh – em, bạn – hữu… Và nó cũng là “công cụ” hữu ích, cụ thể, linh hoạt trong quản lý xã hội.
Tuy nhiên các nhà Nho Đại Việt tiếp thu Nho giáo Trung Hoa có chọn lọc. Chỉ chấp nhận những yếu tố phù hợp với quan niệm, văn hóa và ý chí của người Việt, vì thế Nho giáo Đại Việt không hoàn toàn đồng nhất với Nho giáo Trung Hoa.
Ất Mão (1075) vua Lý Nhân Tông xuống chiếu tổ chức thi tuyển nhân tài. Kỳ thi “Minh kinh bác sĩ và Nho học tam trường” lần đầu tiên. Một dấu mốc lớn trong nền giáo dục và nâng cao dân trí Đại Việt. Tại kỳ thi này Lê Văn Thịnh người thôn Bảo Tháp, giáp Đông Cứu, hương Gia Định, phủ Thiên Đức đỗ thủ khoa (đời sau tôn vinh: trạng nguyên khai khoa). Ông được phong chức sư phó cho vào cung hầu dạy vua Lý Nhân Tông học.
Tài năng tuyệt đỉnh, mười năm sau khi chiếm bảng vàng Lê Văn Thịnh được phong chức thái sư đầu triều. Trở thành gương mặt đại diện cho giới Nho học Đại Việt. Ông từng cầm chức Binh bộ thị lang, góp công lớn trong chiến tranh chống giặc Tống và thể hiện tài bang giao đòi lại vùng đất châu Quảng Nguyên. Nhiều chính sách tiến bộ trong cai trị triều Lý Nhân Tông do Lê Văn Thịnh chắp bút.
Vậy mà bất ngờ Lê Văn Thịnh bị khép tội “mưu giết vua”. Một trọng tội đứng đầu “thập ác”, phải tru di cửu tộc!
– Ngồi ở vị trí tuyệt đỉnh, chỉ đứng sau vua. Là người tài cao học rộng. Hiểu sâu sắc lễ nghĩa Nho giáo, làm sao lại có chuyện ủ mưu giết vua?
– Giết vua thì Lê Văn Thịnh có thể ngồi nổi trên cái ngai vàng đó chăng?
– Giết vua mà không bị khép tội chết, chỉ bị “an trí” lên Thao Giang, chưa đầy một năm thì tha?
– Giết vua mà gia tộc không ai bị liên lụy? Không hề có bè đảng a tòng? Không tàng trữ vũ khí?
…
Những câu hỏi nối câu hỏi ngàn năm còn treo đó!
Vụ án để lại quá nhiều nghi vấn chưa “giải mã”. Song lòng dân luôn tin rằng thái sư, trạng nguyên Lê Văn Thịnh bị hàm oan. Trong lịch sử phong kiến Việt Nam chuyện oan khuất chốn quan trường không ít, nhưng vụ án “trạng nguyên hóa hổ” khiến thái sư, trạng nguyên khai khoa Lê Văn Thịnh “thân bại danh liệt” để lại tiếc thương, xa xót, trăn trở khôn nguôi.
Tài đức và tấm lòng trung nghĩa của thái sư, trạng nguyên Lê Văn Thịnh vằng vặc tựa trăng rằm. Đời sau đã có những cử chỉ đòi lại công bằng cho ông. Vua Lê Thánh Tông (nhà Hậu Lê), các vua nhà Nguyễn từ Minh Mạng trở đi triều đại nào cũng ban sắc phong vinh danh công trạng và tài năng của thái sư, trạng nguyên Lê Văn Thịnh. Nhiều thôn làng tôn trạng nguyên Lê Văn Thịnh làm Phúc Thần, Thành hoàng. Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã xếp hạng nhiều đình, đền, miếu… thờ thái sư, trạng nguyên Lê Văn Thịnh là di tích cấp quốc gia. Công nhận bức tượng “cụ rồng” ở đền thờ thái sư tại quê ông là “bảo vật quốc gia”. Tỉnh Bắc Ninh, huyện Gia Bình đặt tên đường Lê Văn Thịnh. Thôn Bảo Tháp nơi ông sinh ra và làng Đình Tổ nơi ông qua đời cùng nhiều địa phương khác xây dựng công trình thờ phụng ông… nhưng như thế thôi là chưa thỏa đáng. Chưa xứng với công lao, tầm vóc của một danh nhân lớn. Người khai mở nền học vấn nước nhà.
“Trăm năm bia đá thì mòn. Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”. Ngày nay càng nhiều tiếng người đòi hỏi phải minh oan cho thái sư, trạng nguyên khai khoa Lê Văn Thịnh ở cấp cao nhất. Cấp Nhà nước. Tên ông xứng đáng đặt cho các đại lộ, các cơ sở văn hóa, giáo dục hàng đầu đất nước.
Mỗi khi nhớ đến thái sư, trạng nguyên Lê Văn Thịnh tôi vẫn không tránh khỏi cảm giác chua xót, bất nhẫn. Hình ảnh cụ rồng cắn xé thân mình, nước mắt ầng ậc thiên thu, lại hối thúc như phải làm gì đó, dù nhỏ bé, xoa dịu “nỗi oan thác xuống tuyền đài chưa tan” ấy. Nhưng sử liệu về bậc vĩ nhân này quá ít ỏi và không ít sai lạc. Vẫn chỉ là những câu hỏi, phỏng đoán. Lại đã qua ngàn năm sương phủ.
“THIÊN THU HUYẾT LỆ” mượn “cái đinh” sử liệu, treo vào đó tấm gương phản chiếu theo góc nhìn và quyền năng văn học cùng tấm lòng của kẻ hậu sinh.
DẤN THÂN VÀO BỐI CẢNH NGÀN NĂM TRƯỚC, CÚI XIN HẦU CHUYỆN TIỀN NHÂN.
Tác giả