36.2


– Tâu bệ hạ, kế hoạch thôn tính Đại Việt của nhà Tống lần này thâm độc, kín đáo và bất ngờ. Hỏa Văn Ngọ, Đản Hớn bàn nhau sẽ tổ chức hội xuân mừng ngày sinh đức vua vào sau tết Nguyên đán tại cố đô Hoa Lư, lộ Trường Yên. Mời các nhà sư có danh tiếng của Đại Việt và nước Tống lập đàn làm lễ cầu tự, xin trời ban cho đức vua sinh hoàng nam. Bệ hạ sai lão thần đi hộ giá. Cả đức vua và lão thần vắng mặt ở kinh thành Thăng Long vào đúng lúc đại quân Tống tràn sang.

Lý Nhân Tông rùng mình. Ngài giơ hai tay lên trời:

– Một kẻ quyền chức lớn nhất triều đình. Được sủng ái hết mực, lại kết tình thông gia với ta mà ủ mưu độc đến thế sao.

Đức vua quá giận. Quốc lão Thái úy Lý Thường Kiệt lựa lời giải tỏa uất ức trong lòng vua Lý:

– Xin đức vua cùng Hoàng Thái phi bình tâm. Tai họa qua rồi. Lão thần đã cho tra xét từ Thăng Long lên các lộ, phủ sát biên giới lùng bắt lũ Tống gian. Thay quân mới vào quân cũ ở các cửa ải, chốt gác, cầu cống. Ém quân mai phục tại các khe hẻm, ải lũy hiểm trở. Đức vua và Hoàng Thái phi cùng lão thần lúc này phải thật bình tĩnh, dồn tâm trí phòng bị đất nước.

…Đúng như dự định của Thái úy Lý Thường Kiệt. Ngụy Văn Rận cùng vài tên tù trốn trại thoát sang bên kia biên giới. Chúng bị đưa ngay về dinh phủ của đại tướng An Đảo ở Quảng Tây. Sự việc diễn ra quá bất ngờ. An Đảo không đủ thời gian để xác định lời bẩm báo của Ngụy Văn Rận. Vả lại Ngụy Văn Rận là viên quan có hàm chức cao, kẻ thân tín của Tả Thừa thướng Hứa Tương. An Đảo lập tức đưa Ngụy Văn Rận về Biện Kinh.

Tống Triết Tông vô cùng cay đắng. Tả Thừa tướng Hứa Tương tra hỏi riêng Ngụy Văn Rận và đám do thám. Chúng cứ thật thà khai vụ phá đề lao. Không tìm ra nghi ngờ gì từ viên thuộc tướng thân cận, Hứa Tương đành chờ chỉ dụ của Tống Triết Tông.

Vua Tống triệu quần thần. Đòn đánh của Lý Thường Kiệt quá gọn ghẽ. Nhà Tống không còn ai ở trong ruột Đại Việt để bấu víu. Quân đội Đại Việt chắc chắn giương bẫy chờ sẵn. Tống Triết Tông đủ tỉnh táo để hiểu nếu dại dột dẫm lại vết chân Vương An Thạch thì thất bại sẽ thê thảm hơn nhiều. Từ đó cho đến hết đời nhà Tống, không một triều đại nào dám khơi lại tham vọng nhòm ngó Đại Việt nữa.

Duy chỉ có tên Khuất Nô biến mất không một dấu vết.

Giữa tháng mười một, bản Thu Cúc xuất hiện người của triều đình nhà Lý. Từ xa già bản Bùi Điểu sai mấy trai tráng cảnh giới. Họ nhận ra cai trại Khiêm Tản. Sau Khiêm Tản là Đô thống nguyên soái Nguyễn Trực Nhẫn và Hành khiển Nguyễn Chính Định. Họ đều là người quen của quan Thái sư. Hành khiển Nguyễn Chính Định lên trại đầu truyền khẩu dụ của vua Lý Nhân Tông.

Vua Lý tha bổng cho Lê Văn Thịnh bằng khẩu dụ, không có chiếu chỉ văn tự. Nguyễn Trực Nhẫn thuật lại toàn bộ tội trạng của Hỏa Văn Ngọ, Đản Hớn và bọn tay chân Đỗ Chùy, Thái Bá, Khuất Nô… Đức vua và Hoàng Thái phi rất ân hận. Quốc lão Thái úy xin phục chức cho quan Thái sư nhưng họ không dám nhận sai. Lê Văn Thịnh mỉm cười bảo:

– Đệ thật không biết nói gì lúc này. Tấm lòng của Quốc lão Thái úy, của các hiền huynh, đệ sẽ ghi tạc và mang theo xuống mồ. Một năm qua sống với dân bản Thu Cúc, đệ thật hạnh phúc. Không phải đầy ải gì. Những ngày tới đệ sẽ về quê bảo học, bốc thuốc, đó là điều mong muốn từ lâu.

Người dân Thu Cúc vừa mừng vừa buồn. Mừng ông lang, thầy giáo Thịnh của bản Mường được minh oan. Buồn vì biết ông lang Thịnh sẽ rời Thu Cúc về quê. Chỉ còn tháng rưỡi nữa là tết. Lê Văn Thịnh nói với già bản Bùi Điểu:

– Già ơi, tôi xa quê hai chục năm rồi. Đầu đã bạc rồi. Song thân nằm cô quạnh không ai khói hương. Nay tôi phải về tạ lỗi với các bậc sinh thành. Nhưng vợ con nằm lại đây. Tôi chia nửa con người sống ở hai nơi. Nhờ già nói với dân bản tấm lòng tôi như thế. Lúc này lòng dạ tôi ngổn ngang quá.

Già bản Bùi Điểu đứng dậy. Ông phủi tay áo, sửa lại mũ và sụp xuống trước mặt Lê Văn Thịnh:

– Kính bẩm quan Thái sư, trạng nguyên khai khoa của đất nước. Lần đầu tiên cho già này thi lễ trước ngài. Ngài về đây đem cho dân bản Thu Cúc cái chữ, cái cây thuốc cứu người. Dân bản Thu Cúc hiểu biết hơn về cái lẽ làm người. Dù đi đâu quan Thái sư cũng là người ruột thịt của Thu Cúc. Ngài là người trời. Là thần nhân. Ở đâu cũng xin ngài coi Thu Cúc là quê hương. Dân bản Mường là anh em ruột thịt. Ngày đêm Thu Cúc ngóng đợi được đón ngài về thăm.

Lê Văn Thịnh xúc động rớm nước mắt đỡ già Bùi Điểu lên:

– Già ơi, mang thân tù tội, tôi không còn là quan Thái sư nữa. Một năm qua tôi là người của bản Thu Cúc. Được dân bản chăm sóc bảo vệ. Cái ơn ấy Thịnh này không bao giờ dám quên. Quê hương Bảo Tháp là nơi sinh thành, Thu Cúc là nơi cho tôi cuộc sống và dạy tôi hiểu tấm lòng của người dân lành quý hóa biết bao nhiêu.

Những ngày sắp trở lại quê nhà, Lê Văn Thịnh ra thăm mộ Doãn nhiều hơn. Ông ngồi lại bên vợ, con lâu hơn. Lặng im. Bao kỷ niệm, bao nỗi vui buồn ông thì thầm với Doãn. Nỗi đau xé ngược tâm can. Ngày được vô tội, làm người tự do, được trở về quê nhà lại chỉ còn độc một thân một mình. Doãn Hoàn Doãn, người vợ yêu của ông và đứa con chưa được làm người phải gửi lại đất này. Có nỗi đau nào hơn thế? Có bất hạnh nào lớn hơn thế? Tấm thân trĩu nặng của thầy lang Lê Văn Thịnh bất động trong ráng chiều nhòa nhợt. Xẩm tối ông mới nặng nhọc đứng dậy.

Từ bản Thu Cúc hôm nào cũng có con mắt canh chừng. Họ sợ ông lang Thịnh quá đỗi buồn thương mà xảy ra chuyện gì chăng.

Vào một đêm ma dẫn lối hay sao, ông lang Thịnh lần ra mộ vợ. Đi như kẻ mộng du. Áo sống phong phanh. Một ôm cành hoa dẻ to. Ông lang rải hoa, nằm ấp lên mộ vợ. Đất lạnh. Khí lạnh làm ngực ông thắt lại. Hơi thở thoi thóp, lịm dần… Lê Văn Thịnh thấy mình đang ngồi trên một chiếc thuyền trang hoàng rực rỡ. Không người lái. Gió ù ù đẩy thuyền trôi trong biển mây muôn sắc. Khung cảnh thần tiên rực rỡ. Hương thơm ngào ngạt. Đàn sáo tưng bừng… Mọi người gặp ông đều cúi rạp thi lễ. Đang ngợp trong ngất ngây thì thuyền chồm lên. Có tiếng hổ gầm. Nước xối ào ào. Lê Văn Thịnh tối tăm mày mặt. Rồi sóng gió bặt im. Con đò lặng lẽ trôi trên sông nhỏ. Người lái đò trông rất quen. Rụi mắt nhận ra Thái sư Lý Đạo Thành. Lê Văn Thịnh vội vàng thi lễ: “Kính bẩm Quốc lão Thái sư. Lâu không gặp Quốc lão vẫn bình an chứ ạ?”. Lý Đạo Thành cười vang: “Hóa ra ở chốn quan trường ta vẫn còn may mắn hơn ngươi”. Lê Văn Thịnh thưa: “Học trò coi những ngày được ở dưới trướng của hai Quốc lão là may mắn lắm ạ. Chỉ ân hận không nghe lời cha dặn sớm từ quan, để thân bại danh liệt”. Lý Đạo Thành nhìn Thịnh, nghiêm giọng: “Vận số ngươi chưa tận. Sao lại lạc xuống đây?”. “Kính bẩm Quốc lão, học trò đi tìm vợ, con ạ”. Lý Đạo Thành chỉ tay, trừng mắt nói như quát: “Về đi. Vợ con ngươi vẫn yên ổn. Đến giờ đến khắc sẽ được gặp. Về đi. Về ngay đi” … Bóng Lý Thái sư mờ dần. Lê Văn Thịnh cuống quýt hỏi: “Kính xin Quốc lão cho biết bao giờ thì học trò được gặp vợ, con ạ?”. Tiếng Lý Đạo Thành lúc này như tiếng gió: “Sớm… thôi… Sớ…m… thôi… đi ở đâu thì về ở đấy. Đi… ở đâu… thì về… ở …đ…ấy …”. Ngài ngân nga như hát: “Hùm và khỉ sống chung lãnh địa/ Gặp khi nước lửa không hòa /Hùm kia mải miết sa đà /Khỉ dìm hùm xuống sóng sa ba đào /Than ôi thân gửi bờ ao/ Thuyền nan bọc xác ai nào hiểu cho”.

 Lê Văn Thịnh nhùng nhằng nửa đi nửa ở. Lại chợt nhận ra mình đáng đứng

trong ngôi nhà của cha mẹ ở quê hương Bảo Tháp. Cảnh trí rất đỗi thân quen. Đang ngơ ngáo, Thịnh nhìn thấy Doãn Hoàn Doãn từ chân dốc đi lên.

Doãn sững người, buông rơi cái rổ bên sườn. Lê Văn Thịnh ôm trước ngực bó lớn cành hoa dẻ. Chàng ào tới phía vợ. Nhưng không làm sao tới gần được. Doãn thất sắc hỏi: “Chàng đi đâu mà xuống đây?”. “Ta đi tìm hai mẹ con nàng”. Doãn Hoàn Doãn nhận thấy xung quanh thân thể chồng một viền sáng xanh, đỏ tựa hào quang. Chàng chưa hết số. Nàng liền vòng phía sau bất thần xô chồng ngã sấp xuống. Miệng giận dữ đuổi: “Đi đi. Chàng đi ngay đi. Đây không phải chỗ của chàng”.

Ông lang Thịnh lờ mờ tỉnh. Người run bần bật. Ông nghe thấy tiếng khóc. Rất nhiều tiếng khóc. Già Bùi Điểu đau đớn: “Thái sư về trời rồi”. “Ông lang ơi, thày giáo Thịnh ơi, sao nỡ bỏ dân bản Thu Cúc mà đi thế này”. “Bụng người Thu Cúc thương ông lang nhà trời quá”. Một chàng trai luồn tay xuống ngực đỡ ông lang lên. Chợt nhận ra một chút hơi nóng. Đám hoa dày dưới ngực ông lang còn ấm. Anh ta kêu toáng:

– Ông lang còn sống. Bà con dân bản ơi. Ông lang nhà trời còn sống.

Người cởi khăn, cởi áo phủ lên cái thân thể đã lạnh ngắt. Vài người tò mò đặt tay lên đống hoa. Đúng là có hơi ấm. Kỳ lạ. Nấm mộ lạnh cứng. Khí trời buốt ngắt. Vậy mà chỉ đống hoa dẻ vẫn giữ được hơi ấm.

Dân bản đưa ông lang Thịnh về. Cắt cử người chăm sóc, phục thuốc. Hơn chục ngày sau ông lang Thịnh mới ngồi dậy được. Ông tập đi, lấy lại sức. Niềm khát khao trở về Bảo Tháp khiến ông khỏe lại rất nhanh. Dân bản Thu Cúc chung tay chuẩn bị cho chuyến trở lại quê hương của ông lang. Họ may biếu ông áo chàm mới. Khăn chàm mới. Chuẩn bị cho ông từ lọ muối, gạo rang, cá khô, ống đựng nước. Tặng ông lang gậy, mũ…

Đầu tháng Chạp năm ấy, ở bản Thu Cúc diễn ra buổi chia tay thật nghẹn ngào. Già trẻ, trai gái cả bản đi tiễn ông lang Thịnh. Bao nhiêu nước mắt đã chảy. Đến bên mộ nàng Doãn, ông lang Thịnh đứng lặng lúc lâu. Rồi ông nói trong nước mắt:

– Già ơi, bà con Thu Cúc ơi. Thịnh này sống được, gặp được vợ đều là nhờ bà con dân bản ta. Bà con hãy cho Lê Văn Thịnh được làm con của Thu Cúc. Làm anh em của bà con. Thịnh trở về quê hương sinh thành nhưng vợ, con gửi lại đây. Xin bà con cưu mang mẹ con nàng Doãn. Ơn này Thịnh tôi biết báo đáp thế nào. Bà con hãy nhận của Thịnh tôi một lạy.

Cả trăm con người sụp xuống đáp lễ. Lê Văn Thịnh cúi xuống bên ngôi mộ. Trong lòng nghẹn đắng: “Nàng và con nằm tạm lại đây. Thu Cúc cũng là nhà mình. Anh sẽ trở lại đưa hai mẹ con về quê. Chúng mình lại hạnh phúc bên nhau ở Bảo Thap, ở Điền Mô…”. Lê Văn Thịnh gạt nước mắt, bốc một nắm đất mộ, trải vuông khăn thổ cẩm, gói nắm đất đúc vào tay nải. Nắm đất Thu Cúc. Nắm đất mang hồn vía vợ, con ông.

Tới bờ sông, Lê Văn Thịnh xuống thuyền. Thuyền ra giữa dòng, ông lang vẫn đứng trông về bờ. Dân bản nối thành một dây người dài từ dốc xuống mép nước. Ông lang Thịnh buông bị, thả gậy, lột mũ sụp xuống lạy người dân Thu Cúc lần nữa. Mấy trăm con người quỳ đáp lại. Họ cứ thế nhìn theo cho đến khi con đò chỉ còn như chiếc lá trôi lẫn vào chân trời.