31.1


Trở lại mấy năm trước, sau trận đại bại trên sông Như Nguyệt, Tống Thần Tông cất nhắc Chủng Ngạc lên thay Vương An Thạch. Năm 1081, nội tình nhà Tây Hạ có biến, Chủng Ngạc đệ trình Tống Thần Tông kế hoạch đem quân đánh lên phía bắc. Chiếm được đất, được thành của Tây Hạ cũng khiến Tống Thần Tông đỡ uất hận trận đại bại trước Đại Việt. Vua Tống chuẩn tấu.

Tống Thần Tông giao cho Đại tướng Lý Hiến đem năm vạn lính đánh sang phủ Hưng Khánh. Quân Tống chiếm được tòa thành nhỏ Lan Châu. Vua Tống rất mừng. Ông ta hạ lệnh tiếp tục công phá thủ phủ Hưng Khánh. Nhưng Hưng Khánh là tòa thành rất vững chắc. Tây Hạ dựa vào thành cao hào sâu dùng kế “kiên bích thanh dã”. Năm vạn quân Tống bị chôn chân tại đây nhiều tháng. Biết khó hạ nổi thành, Tống Thần Tông ra lệnh xây dựng Lan Châu trở thành tiền đồn kiên cố bảo vệ vùng đất vừa chiếm được. Chủng Ngạc hối thúc chở vật liệu từ trong nước sang. Một đại công trường bao quanh Lan Châu. Không ngờ thành đang xây dở thì nhà Tây Hạ đánh úp. Tây Hạ xuất hai mươi vạn binh mã. Lực lượng quá chênh lệch. Quân Tống đại bại, phải bỏ Lan Châu. Tây Hạ còn chiếm thêm mấy châu, phủ nữa. Nỗi đau thua trận liên miên khiến Tống Thần Tông ôm hận xuống mồ.

Kế ngôi vua cha khi tuổi còn bé quá, Tống Triết Tông phải dựa cả vào mẹ. Tám năm tập làm vua, Tống Triết Tông mới nắm toàn quyền chấp chính. Vua Tống chọn hai viên quan nhất phẩm làm phò tá. Hứa Tương giữ chức Tả thừa tướng và Thái Biên làm Hữu thừa tướng. Nền kinh tế nhà Tống thời gian này không vực lên được. Đến lượt nhà Liêu nhòm ngó xuống Trung Nguyên. Tống Triết Tông triệu quần thần nghị bàn. Viên Nội thị tên Dương Úy đệ trình kế sách:

– Muôn tâu thánh thượng. Tranh chấp đất đai giữa đại Tống ta với hai nước Liêu, Tây Hạ xảy ra thường xuyên. Cứ mỗi khi nước này suy yếu hoặc trong nội triều có bất đồng là chúng lại xuất binh. Vì thế theo hạ thần phải có cách nào nhanh làm cho Đại Tống mạnh vượt lên thì hai nước kia sẽ tự lui binh.

– Cách nào làm được thế?

Hữu thừa tướng Thái Biên tâu:

– Muôn tâu thánh thượng, năm trước tri châu Chương Tiết dâng lên kế hoạch khống chế nhà Tây Hạ bằng các biện pháp kinh tế. Cho người thâm nhập nước đó phá hoại sản xuất. Đồng thời xây hai thành lũy thật mạnh ở khu vực biên giới là thành Bình Hạ và Linh Bình. Chứa nhiều lương thảo đặt lực lượng lớn đồn trú sẽ khiến Tây Hạ chùn bước.

– Đó là kế hoạch hay nhưng cần nhiều thời gian, của cải. Còn làm sao để kinh tế bật lên nhanh chóng bây giờ.

Dương Úy thưa:

– Muôn tâu thánh thượng, hạ thần cùng nhóm sáu huynh đệ trong Nội thị xin trình bản tấu này.

Tống Triết Tông xem qua, nó na ná chương trình cải cách mang tên “Tân pháp” của Tể tướng Vương An Thạch trước đây. Quần thần bàn thảo sôi nổi. Nội tình nhà Tống nay đã khác nhiều thời Tống Thần Tông và Vương An Thạch nên triều thần có vẻ đồng thuận. Tống Triết Tông cũng cho là nên thử.

Tả thừa tướng Hứa Tương nói:

– Tâu thánh thượng, kế sách của nhóm Dương Úy đại nhân có nhiều điểm mới so với “Tân pháp”. Nhưng để chắc chắn thành công thì phải có nguồn lực và tài nguyên dồi dào.

Tống Triết Tông hỏi:

– Lời bàn của Tả thừa tướng rất xác đáng. Kế sách có hay đến mấy, trước tiên phải có nguồn lực để thi hành. Vậy các khanh đã tính xem đại Tống ta có đủ nguồn lực ấy không?

Dương Úy thưa:

– Muôn tâu thánh thượng. Đúng là nguồn lực có sẵn thì chưa đủ. Nhưng hạ thần cho rằng trong “Tân pháp” của Vương Tể tướng trước đây nhiều mặt dàn trải. Nay chỉ nên tập trung làm trước vào việc thúc đẩy sản xuất lương thực và tăng cường quân sự.

Tống Thần Tông cắt ngang lời Dương Úy:

– Dẫu là chỉ làm mấy việc đó cho thật nhanh thì cũng cần có tiền và tài nguyên chứ?

– Vâng. Nhóm của hạ thần đã soạn thảo một đệ trình kính xin hoàng thượng ban chỉ dụ cho toàn dân chịu đựng kham khổ trong ba năm. Mức thuế phải nộp cho triều đình tăng lên gấp rưỡi.

Hữu thừa tướng Thái Biên lên tiếng:

– Muôn tâu hoàng thượng. Dân tình nước ta mấy năm nay đã khổ sở nhiều vì chiến tranh. Nay nếu lại bắt họ đóng thêm nhiều thuế thì thần e không giữ được nội trị. Đói khổ quá dân làm liều thì kinh tế càng kiệt quệ.

Tống Triết Tông:

– Ta đồng ý với lời bàn của Hữu thừa tướng. Muốn phát triển kinh tế hay xuất binh chinh phạt chư hầu thì trước hết nội tình phải yên. “Dân dĩ thực vi thiên” là điều luôn phải nhớ. Nay cướp miếng ăn, đẩy dân đến đường cùng thì chiến tranh nổ ra ở ngay trong nhà chứ chưa nói đem quân đánh nước khác. Các khanh phải nghĩ cách nào cho trẫm chứ không thể thu thêm thuế của dân.

Không khí buổi triều kiến rơi vào luẩn quẩn. Lâu sau vẫn Hứa Tương lên tiếng:

– Muôn tâu hoàng thượng, thần nghĩ chìa khóa giải quyết vẫn nằm ở Giao Chỉ.

Quần thần xôn xao. Tống Triết Tông hỏi:

– Tả thừa tướng hãy nói rõ ý mình:

– Muôn tâu hoàng thượng, xứ Giao Chỉ là nơi rất giầu có về tài nguyên, sản vật. Thời tiên đế Tống Thần Tông, Tể tướng Vương An Thạch đã có cả một bản đệ trình về số mỏ vàng ở châu Quảng Nguyên. Đất Giao Chỉ ngay sát các châu lộ phương nam của ta. Vàng không chỉ trong đất mà còn cả trong đá. Dân địa phương nhặt được vàng khi sét đánh vào núi.

Tống Triết Tông cắt ngang lời Hứa Tương:

– Ý Tả Thừa tướng muốn ta đem quân chiếm lấy Giao Chỉ?

– Muôn tâu hoàng thượng, đúng vậy. Nếu ta đánh Giao Chỉ, cùng với việc mở rộng lãnh thổ về phía nam sẽ thu được cả cái kho của cải sản vật đồ sộ ấy. Chính sách “Tân pháp” có nguồn lực thực hiện. Quân đội cũng nhanh chóng hùng mạnh.

Tống Triết Tông lại hỏi:

– Thời tiên đế Tống Thần Tông, Tể tướng Vương An Thạch cũng làm y như khanh vừa nói nhưng mấy lần chuốc lấy thảm bại. Cái xứ Giao Chỉ nhỏ bé ấy tuy ít dân nhưng rất khó khuất phục. Đại Tống ta hai lần nhục nhã bởi Lê Đại Hành và Lý Thường Kiệt, nay vì sao Tả thừa tướng định lặp lại?

– Muôn tâu hoàng thượng, xứ Giao Chỉ đúng là cứng đầu khó trị. Nhưng từ sau khi triều đình Lý Càn Đức áp dụng chính sách cải cách kinh tế do Thái sư Lê Văn Thịnh đề xuất, nội triều sinh ra mâu thuẫn lục đục y như thời Tể tướng Vương An Thạch. Do thám của ta ở Thăng Long cấp báo, Lê văn Thịnh bị bắt giam hơn nửa năm nay. Quận vương Giao Chỉ Lý Nhân Tông ba mươi tuổi chưa có con trai nối dõi ngày đêm sa đà vào các trò du hí, cầu tự.

Hữu thừa tướng Thái Biên tham góp:

– Lời của Tả thừa tướng đại nhân thật đáng để tâm. Nhưng Lý Thường Kiệt vẫn còn đó. Đã từ mấy đời nhà Lý hắn là cây cột chống bảo vệ xứ ấy, không thể xem thường.

Tả thừa tướng Hứa Tương:

– Tại hạ cũng đã nghĩ đến điều đó. Nếu đại Tống ta xuất binh thì người đáng ngại nhất là Lý Thường Kiệt chứ không phải vua Lý. Nhưng năm nay ông ta cũng đã gần tám mươi rồi. Sức vóc, sức nghĩ không còn như trước nữa. Với lại thần cho rằng muốn chiếm được Giao Chỉ phải dùng mẹo kết hợp với sức. Đánh từ ngoài bằng quân sự và đánh từ trong ra bằng nội gián.

Tống Triết Tông rất để tâm lời tấu trình của Hứa Tướng:

– Tả thừa tướng nói rất hợp ý ta. Dân Giao Chỉ ngang bướng. Nếu dạy cho Giao Chỉ biết lễ phép với thiên triều thì chưa cần động binh lúc này. Song đánh nó để lấy của cải, đẩy nhanh kinh tế của ta thì nên làm. Vậy khanh nói rõ đánh từ trong nội bộ Giao Chỉ như thế nào?

– Muôn tâu hoàng thượng, tháng trước thần đã cho người sang Thăng Long. Thì ra cả một mạng lưới do thám của đại Tống ta do Tể tướng Vương An Thạch cài vào Giao Chỉ chưa được dùng tới. Tể tướng Vương An Thạch mất chức những mạng lưới đó chưa bị lộ. Nay ta dựng chúng dậy làm nội ứng bên trong.

– Vậy ai đang cầm đầu đội quân quý báu đó?

– Muôn tâu hoàng thượng, chủ Hội buôn người Hoa ở Thăng Long tên Đản Hớn đang nắm mạng lưới này.

Tống Triết Tông quá vui. Ông ta vỗ tay khen:

– Một tin thật tốt lành. Tả thừa tướng quả là rất nhanh nhẹn. Ta ban lời khen và ghi công đầu. Các khanh ai có ý kiến gì khác không?

Quần thần nhộn nhạo một hồi. Họ khá bất ngờ trước ý kiến của Hứa Tương. Không ai nói gì thêm. Tống Triết Tông hạ chỉ:

– Ta giao cho Hữu Thừa tướng Thái Biên, quan Nội thị Dương Úy và nhóm cải cách sáu người đốc thúc áp dụng “Tân pháp” mới. Các khanh hãy chọn việc gì cần làm trước. Việc gì chưa thể thì làm sau. Nhiệm vụ thôn tính xứ Giao Chỉ ta giao toàn quyền cho Tả Thừa tướng Hứa Tương.

Quần thần giập đầu lĩnh mệnh. Hứa Tương bẩm:

– Thần đội ơn hoàng thượng tin tưởng. Thần xin tiến cử hai tướng An Đảo và Chương Đôn chỉ huy cuộc chinh phạt này. Xin thánh thượng xuống chiếu phong An Đảo giữ chức tri phủ Quảng Tây, Chương Đôn tri phủ Vân Nam và ban lời khích lệ Đản Hớn.

Tống Triết Tông:

– Ta chuẩn tấu. Khanh và hai đại tướng nhanh chóng trình kế sách. Tả Thừa tướng được toàn quyền huy động quân dân, hậu cần vào cuộc xuất đại binh lần này. Nhưng ta phải nhắc lại. Nhất định phải thắng.

– Chúng thần tuân chỉ.

Vậy là bộ sậu mới của triều đại Tống Triết Tông không chỉ kế thừa các chính sách cải cách xã hội của Vương An Thạch mà chúng còn kế thừa một cách hung hăng hơn tham vọng thôn tính Đại Việt từ cái thây ma họ Vương.

… Tả thừa tướng nhà Tống Hứa Tương chuẩn bị cuộc xâm lăng Đại Việt kín đáo hơn Vương An Thạch. Hệ thống kho tàng xây dựng lùi sâu trong đất Tống. Hai viên đại tướng An Đảo và Chương Đôn được phong chức lớn. An Đảo tước tòng nhị phẩm, chức Tả hữu kim ngô vệ, kiêm tri phủ Quảng Tây. Chương Đôn tước tòng nhị phẩm, chức tả hữu vệ kiêm tri phủ Vân Nam. Ngoài việc cử hai viên tướng rất hiếu chiến cai quản hai phủ sát biên giới Đại Việt, Hứa Tương còn đặc biệt hy vọng vào mạng lưới do thám nằm ở Thăng Long. Đây sẽ là đòn “nội công ngoại kích” bất ngờ khiến Lý Thường Kiệt và triều đình nhà Lý không trở tay kịp.

Theo lệnh Hứa Tương, Chương Đôn cử người vào Đại Việt truyền khẩu dụ của Tống Triết Tông và mệnh lệnh của Hứa Tương tới Đản Hớn. Một ân huệ lớn chưa từng có của hoàng đế thiên triều với một thuộc hạ chưa có tên tuổi gì. Điều này chứng tỏ Tống Triết Tông coi trọng tới mức nào ổ do thám trong lòng Đại Việt.

Tin thám sát từ biên ải dồn dập truyền về. Quốc lão Thái úy Lý Thường Kiệt lại những đêm mất ngủ. Trong lễ triều kiến, Lý Thường Kiệt bẩm vua Lý Nhân Tông:

– Tâu đức vua, nhà Tống đang điều động quân đội. Hai viên đại tướng giỏi rất hiếu chiến từ mặt trận chống nhà Liêu và Tây Hạ được vua Tống giao cai quản Quảng Tây, Vân Nam là dấu hiệu chúng sẽ thôn tính nước ta.

Lý Nhân Tông nghe Quốc lão Thái úy Lý Thường Kiệt tâu, vua chưa có ý chỉ gì, Thái phó Hỏa Văn Ngọ đã xen ngang:

– Muôn tâu đức vua, tấu trình của Thái úy đại nhân về sự thay đổi quan lại của nhà Tống có ý nhằm vào Đại Việt ta nghe còn mù mờ lắm. Gần hai chục năm nay, bang giao hai nước đang tốt đẹp. Quốc phòng đất nước thì lúc nào cũng cần cảnh giác nhưng nếu vội vàng, quá chớn sẽ làm dân chúng hoang mang và ảnh hưởng đến quan hệ hai nước.

Hà Ngô Tự và Nguyễn Trực Nhẫn ngầm đưa mắt nhìn nhau. Quốc lão Thái úy im lặng. Ông biết chưa nên nói thêm gì vào lúc này. Các triều thần khác cũng phân vân. Lý Nhân Tông nói:

– Vua hai nước vẫn trao đổi văn thư bang giao. Ta cũng chưa nhận ra biểu hiện gì khác thường. Quốc lão Thái úy nên nắm thêm tình hình, song cần kín đáo. Đừng nôn nóng làm xáo động lòng quân.

Thái phó Hỏa Vân Ngọ là trọng thần hạng nhất phẩm. Sau khi trở thành thông gia với đức vua, tiếng nói của Hỏa Văn Ngọ càng thêm sức nặng. Hắn nói gì vua Lý Nhân Tông thường nghe theo. Sau lời tâu trình của Hỏa Văn Ngọ, cái đuôi của con cáo có vẻ đã lấp ló. Sự nghi ngờ của Lý Thường Kiệt ngày một lớn. Nó trùng với sự nghi ngờ của Thái sư Lê Văn Thịnh về viên Thái phó này. Quốc lão Thái úy lui một bước:

– Lão thần tuân chỉ.